|
KINH TẾ VIỆTNAM
SAU NỬA NHIỆM K̀ CỦA NÔNG
ĐỨC MẠNH
HOÀNG QUẾ
Tại các nước phát triển như
Mỹ, dân chúng và giới báo chí thường đánh giá lănh đạo sau 100 ngày cầm
quyền đầu tiên hoặc sau một năm. Thông lệ này hầu như chưa có tại các nước
phát triển, nơi mà mọi sự "tiến bộ" đều diễn ra rất chậm chạp. Tại VN,
theo cơ chế Đảng CS lănh đạo, th́ Tổng bí thư (TBT) Nông Đức Mạnh (NĐM)
mới là người lănh đạo số 1 và ông đă cầm quyền được hơn 2 năm, tức là một
nửa nhiệm kỳ, thế nhưng có lẽ chưa có ai đánh giá thành tích của ông trong
thời gian qua
Công bằng mà nói th́ thời
gian qua kinh tế VN tăng trưởng kinh tế khá tốt: 6.9% năm 2001, 7% năm
2002 và 7.24% năm 2003 mặc dù có gặp nhiều khó khăn như dịch bệnh viêm
đường hô hấp cấp tính (SARS), các đợt lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng
cho nhiều vùng, chiến tranh Iraq và nay là dịch
“cúm
gà”
với trên 30 người thiệt mạng và hàng chục triệu con gà bị đem đi thiêu hủy.
Điểm lại những con số kinh tế
trong ba năm qua
Trong 3 năm qua, VN đạt được
nhiều con số kinh tế đáng khích lệ
.
Về mặt kinh tế tăng trưởng kinh tế VN khá tốt: 6.9% năm 2001, 7% năm 2002
và 7.24% năm 2003 mặc dù có nhiều khó khăn: dịch bệnh viêm đường hô hấp
cấp tính (SARS), lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều tỉnh, chiến
tranh Iraq và nay là dịch
“cúm
gà”với
trên 30 người thiệt mạng và 38 triệu con gà bị huỷ diệt.
Dưới lănh đạo của Tổng bí thư
Nông Đức Mạnh trong thời gian 2001-2003, các con số về kinh tế đều khích
lệ, với tăng trưởng GDP trung b́nh là 7.0% [1]. VN nay là thành viên
“hội”
các nước có mức tăng trưởng kinh tế cao tại Á châu và trên thế giới. Các
chuyên gia kinh tế đều cho là việc này nhờ xuất khẩu tăng, giá dầu tăng,
và các mặt hàng xuất khẩu khác như quần áo, giày dép và thủy sản đều gia
tăng mạnh mẽ.
Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao
nhưng nếu nh́n kỹ th́ tăng trưởng GDP c̣n nhỏ, trong ba năm VN chỉ mới
thêm $ 7.3 tỷ cho GDP: từ $ 32.7 tỷ năm 2001 lên $ 35.1 tỷ năm 2002, và $
39 tỷ trong năm 2003. Trong ba năm mỗi người VN mới đóng góp $ 91 đôla vào
GDP hay trung b́nh $ 30.6/người/năm. Con số này rất khiêm tốn, chưa có ǵ
là phải hănh diện. Vào chi tiết th́:
* Năm 2003, công
nghiệp và xây dựng đóng góp 53% cho sự tăng trưởng của GDP. VN sản xuất
trên 16 triệu tấn than trong khi đó VN xuất khẩu trên 13 triệu tấn dầu thô.
Khu vực nông lâm sản tăng 3.2% trong khi dịch vụ tăng 6.6%, mức cao nhất
từ sáu năm qua.
* Về thương mại năm
2003 tổng số ngạch xuất khẩu lên US$19.8 tỷ. VN là nước xuất khẩu gạo đứng
thứ hai trên thế giới. Xuất khẩu thủy sản đạt trên $ 2.2 tỷ. Các hàng xuất
khẩu chính gồm: dầu thô (20%), may mặc (16%), thuỷ sản (12%), giầy dép
(11%), gạo (4%), cafê (2%), hàng khác (35%). Các hàng nhập gồm: trang bị
và máy móc (19%), xăng dầu (10%), đồ dệt (9%), thép (7%), vải (5%), xe gắn
máy (2%); linh kiện điện tử (2%), phân bón (2%), hàng khác (44%). Các thị
trường xuất khẩu chính của VN là Nhật (15%), Mỹ (15%), Trung quốc (9%), Úc
(8%), Singapore (6%), Đài loan (5%), Đức (4%), Anh (3%), Nam Hàn (3%),
Pháp (3%), các nước khác (29%).
* Trong nhiều năm và
nhất là trong năm 2003, VN nhập siêu $ 5.15 tỷ hay 26% trị giá xuất khẩu.
Các doanh nghiệp (DN) nội địa xuất khẩu $ 9.84 tỷ, trong khi các DN có đầu
tư nước ngoài xuất khẩu $ 10 tỷ. Giá cả các hàng nông nghiệp như cao su,
cafê, vv. tăng và hiệp định thương mại Việt Mỹ đă giúp các khu vực may mặc,
dệt và thuỷ sản.
*
Thu ngân sách tăng 11.2 % so
với ngân sách năm 2002. Thâm hụt ngân sách ở mức 5% GDP. Tiêu thụ tăng
12.1% so với năm 2002 và giá cả trên thị trường tăng ở mức 3% và hối suất
so với đôla chỉ tăng 2.2%.
* Tỷ lệ đầu tư năm
2003 chiếm 35.6 % GDP, tăng 18% so với năm 2002. Thành công khác là các
nước viện trợ trong nhóm CG đă hứa dành cho VN $2.8 tỷ viện trợ ODA cho
năm 2004.
Nói tóm lại, về mặt
kinh tế VN có nhiều thành công, có tăng trưởng về lượng .
Nhưng cơ cấu kinh tế c̣n
nhiều bức xúc, vẫn vận chuyển theo vết bánh xe cũ. Ai đă từng làm việc ở
VN trong gần hai thập niên qua cũng đều thừa nhận rằng VN đă có thay đổi.
Bộ mặt đời sống kinh tế đă khá hơn trước nhiều. Nhưng những cải cách ở VN
vẫn đang diễn ra với tốc độ quá chậm, đặc biệt trong guồng máy hành chính.
Sự chậm chạp đó đă tác động trực tiếp tới nền kinh tế của VN và để lại quá
nhiều vấn đề: nhập siêu, bội chi ngân sách, chất lượng tăng truởng kinh tế
c̣n thấp và khả năng cạnh tranh c̣n yếu.
Từ bên ngoài, thật dễ dàng
nhận thấy rằng những trở ngại ngăn cản VN phát triển nhanh hơn nữa nằm
ngay trong đường lối chỉ đạo chất chứa đầy mâu thuẫn - phát triển một nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
* Năm 1995 VN quyết xây dựng
công nghiệp đường (sản xuất 1 triệu tấn/năm) cho đầu tư xây 32 nhà máy với
số vốn là $ 750 triệu và $ 350 triệu xây dựng hạ tầng. Theo World Bank th́
các nhà máy đường chỉ có khả năng lấy lại được 60-75% vốn đầu tư sản xuất.
Một tấn đường VN ở khoảng $ 278/tấn, trong khi giá cả trên thế giới là
$218/tấn. Các nhà máy này chỉ gây được một số việc làm không đáng kể. V́
vậy, chính sách sử dụng vốn đầu tư chưa được tốt. Trong thời gian
2000-2003, tỷ số ICOR (tỷ lệ vốn trên sản xuất) ở mức 5-6, nghĩa là VN cần
$5-6 đầu tư mới sản xuất ra $1. V́ vậy hiệu quả đầu tư chưa cao.
* V́ sao hiệu quả đầu tư chưa
cao? V́ tại VN c̣n nhiều mâu thuẫn giữa chủ trương chính sách với thực tế.
Chẳng hạn, nhà nước đề ra chủ trương đầu tư vào những ngành kinh tế hướng
xuất khẩu, nhưng thực tế trong 20 ngành được đầu tư th́ chỉ có hai ngành:
thuỷ sản và may mặc là nhằm xuất khẩu. Các ngành khác, thường thuộc DNNN:
xi măng, thép, v.v... chỉ đáp ứng cho thị trường nội địa. Hệ thống, chính
sách và cách làm của VN c̣n có nhiều xu hướng
“thị
trường theo định hướng”
cho nên bảo hộ các DNNN mặc dù là 75% các DNNN lỗ. Hậu quả là mặc dù đầu
tư cao cho khu vực DNNN nhưng khu vực này không gây thêm việc làm. Các
DNNN đầu tư vào các dự án thay thế nhập khẩu không gây nhiều lao động như
trường hợp một nhà máy xi măng $ 200 triệu chỉ gây được 1.000 việc làm.
* Thêm vào đó thất
thoát và tham nhũng tràn lan. Theo đánh giá 2004 của cơ quan PERC
đánh giá về môi trường đầu tư tại Á châu, VN đứng hạng ba về tham
nhũng tại Á châu, sau Indonesia và Ấn độ. Theo báo cáo của Bộ Tài
chính và Bộ Kế hoạch Đầu tư, 30-40% của các dự án xây dựng bị
“móc
ruột”. Tham nhũng cao cho nên việc sử dụng đầu tư cũng không mấy hiệu quả.
Trong một tài liệu [2] gởi cho lănh đạo VN, ông Mai chí Thọ c̣n nêu ra một
số vụ tham nhũng chưa được giải quyết như công ty LG tặng đ/c Đỗ Mười 1
triệu đôla nhưng không thấy TUĐ giải thích về việc sử dụng? Trách nhiệm
của đ/c Nguyễn Công Tạn (nguyên Phó Thủ tướng) trong vụ án Lă Thị Kim Oanh?
Trách nhiệm trong vụ án Năm Cam và Bùi Quốc Huy?
* Chất lượng hàng xuất khẩu
chế biến VN c̣n kém. Một số lô hàng xuất khẩu qua Mỹ bị cơ quan FDA của Mỹ
giữ lại [3] v́ những lư do như nhiễm vi khuẩn salmonella hay chế biến
thiếu tiêu chuẩn; thiếu vệ sinh hay dùng chất độc hại; sử dụng hoá chất bị
cấm như thuốc sát trùng, sulfít hay Histamin, vv.
* Một trong những thành công
của các nước có kinh tế thị trường như Mỹ, Singapore, v.v. là luôn luôn
uyển chuyển, giữ được khả năng cạnh tranh ở mức cao. Trong phúc tŕnh về
khả năng cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness) th́ VN đứng hạng 73
trên 103 nước trong lĩnh vực công nghiệp, nghĩa là c̣n thấp. Khả năng cạnh
tranh của VN c̣n thấp v́ các thủ tục hành chính quan liêu - rườm rà và v́
xă hội không phát triển được tài năng mọi người. Ví dụ cảng containeur của
TP Saigon đă có thể giảm 2/3 giá được v́ có thêm máy móc, nhưng các thủ
tục hải quan c̣n đ̣i hỏi nhiều giấy tờ.
Tăng trưởng chưa có chất
lượng v́ chưa giải quyết một số vấn đề căn bản trong xă hội nhất là tại
nông thôn để ... đi tới một xă hội dân chủ, công bằng và văn minh. Muốn
đánh giá một xă hội có phát triển hay không, ngoài tăng trưởng kinh tế c̣n
phải đánh giá từ các khía cạnh khác liên quan tới con người. Joseph
Stiglitz, người lănh giả Nobel về kinh tế năm 2001, một cựu cố vấn
kinh tế cho TT Mỹ và cho Ngân Hàng Thế Giới (WB) đă nhấn mạnh ràng
“Phát
triển không phải là chỉ tăng tổng sản lượng quốc nội (GDP) mà cũng là tạo
dựng một xă hội tốt đẹp hơn, một xă hội dân chủ thật sự và công bằng.”
* Theo các con số thống kê
chính thức, VN mới dành 2% GDP cho giáo dục và 0.8% cho y tế.
Đó là một tỷ lệ tất nhỏ so với các nước chung quanh. Vụ dịch cúm gà đă cho
thấy các phương tiện pḥng ngừa tại VN c̣n sơ xài v́ thiếu ngân sách và
thiếu đầu tư cho ngành y tế và thú y. Theo cơ quan FAO th́ nhiều báo cáo
cho thấy dịch cúm gà đă xẩy ra từ tháng 7. 2003 tại Vĩnh phúc và Hà tây.
Các viên chức địa phương cho là có dịch tả gà, đă cho huỷ diệt hàng loạt
nhưng cũng che giấu tin tức này v́ VN đang sửa soạn tổ chức SEA games.
Theo baó cáo của Cục Thú y th́ đă có 381 huyện, 2411 xă của 57 tỉnh thành
có dịch cúm gà trên tổng số 64 tỉnh thành và theo họ số gia cầm bị huỷ
giết lên đến 38 triệu con trên tổng số 254 triệu con (15%).
* Tăng trưởng gây chệnh
lệch giửa nông thôn và thành thị v́ chính sách chưa đủ chú ư về nông thôn
[4]. Chênh lệch tỷ lệ chi tiêu giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất đă
tăng từ 4,97 lần năm 1993 lên 6,03 lần năm 2002, và nay tỉ lệ này có thể
lên tới 8,84 lần. Tỉ lệ cách biệt ở Trung quốc chỉ mới có 3 lần là chính
phủ đă phải đổi chính sách phát triển. Như vậy khoảng cách giàu - nghèo đă
tăng cách biệt nông thôn - thành thị và giàu - nghèo chưa kể nhiều phiền
hà cho dân. Chính sách phát triển kinh tế theo định hướng XHCN kiểu
VN không gây thêm việc làm, bỏ bê khu vực nông thôn cho nên gây thêm chênh
lệch và tăng trưởng kinh tế không cân bằng.
* Về chất lượng cuộc sống,
các quyền tự do căn bản được bảo đảm trong Hiến pháp chưa được thực hiện
trên thực tế. Bộ Ngoại giao Mỹ cho là đàn áp tôn giáo và các người bất
đồng ư kiến ôn hoà [5].
Các mâu thuẫn giữa kinh tế
thị trường và định hướng XHCN làm chậm tăng trưởng v́ c̣n quá nhiều tiêu
cực. Nền kinh
tế theo định hướng XHCN kiểu VN là một thị trường mà các cơ quan nhà nước
hoặc những người có quan hệ với chính quyền được hưởng lợi v́ những hạn
chế đặt ra trong cách vận hành của thị trường. Họ muốn một thị trường hạn
chế để có lợi cho họ cho nên khu vực DNNN thường xuyên trong t́nh trạng "lỗ
thật lăi giả", nhưng vẫn được ngân sách rót tiền hay được ưu tiên ngân
hàng cho vay. Việc này làm khu vực ngân hàng trong t́nh trạng nguy cơ v́
các món nợ xấu của các DNNN.
Chủ trương đầu tư vào các
ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu cũng là do các chính sách kinh tế c̣n
nặng tính
“duy
ư chí,”
không có tính chất cạnh tranh cao, bất chấp phí tổn kinh tế. Cơ chế và bộ
máy hành chính quan liêu cồng kềnh c̣n là yếu tố ngăn cản tốc độ cải cách
ở VN.
Kinh tế VN chưa có chất lượng
v́ chưa có biến đổi sâu sắc, chưa tạo ra nhiều việc làm và quên đa số dân
ở nông thôn.
Kết luận
VN đă đạt tỉ lệ tăng trưởng
kinh tế tốt trong ba năm qua, nhưng c̣n quá nhỏ ($ 30/đầu người/năm) và
những chính sách định hướng XHCN chưa cho phép phát huy được hết khả năng
của mọi thành phần kinh tế. TT Phan Văn Khải muốn tiếp tục đổi mới qua
“quyết
tâm bỏ trợ cấp nhà nước”, Luật DN phải được
“thi
hành”
và các cán bộ phải kê khai tài sản. Đáng tiếc thực tế lại không như vậy.
Những thực trạng tham nhũng,
tệ nạn xă hội, móc ngoặc, vv cho thấy kinh tế vẫn chuyển theo vết xe cũ.
Tới nay sau nửa nhiệm ḱ, ông Nông Đức Mạnh vẫn chưa tỏ cho thấy là ông có
đủ can đảm để đẩy mạnh cải cách theo chân đảng CS Trung quốc anh em để đề
ra một học thuyết kiểu như thuyết "Ba đại diện," [6].
Với thuyết này, trên thực
chất Trung quốc đă từ bỏ con đường của Mác - Lênin, đưa quyền tư hữu vào
luật pháp và đưa giới doanh nghiệp vào trong ĐCS.
Hậu quả là VN đang thực hiện
là "tăng trưởng
kinh tế" bằng cách "đo lường"
những tiến bộ về kinh tế qua
tăng trưởng GDP, và các chỉ số khác nhưng đó chưa phải là "phát triển
kinh tế."
Muốn "tăng trưởng kinh tế"
th́ VN nên gấp rút chấm dứt chế độ độc quyền kinh tế. Muốn "phát triển
kinh tế" VN cần thay đổi thêm về tư duy chính trị. Một xă hội - dân giàu,
nước mạnh và văn minh - không thể chỉ đi trên một chân (kinh tế) mà quên
chân kia (cơ cấu chính trị). Mọi người đều biết là, độc tài đưa đến tham
nhũng và lạm quyền.
VN có thể có một nền kinh tế
ngày càng trở thành giàu mạnh, nhưng chưa có xă hội dân chủ phát triển.
Điểm chính là làm sao chấm dứt độc quyền kinh tế, xây dựng xă hội công dân,
lột xác đảng theo chân ĐCS Nhật. TBT Nông đức Mạnh chưa có làm ǵ để
giải quyết vấn đề
“gốc
rễ”
này [7]. Ông vẫn chỉ bước theo nhưng vết chân cũ!
♣
GHI CHÚ
1. Báo cáo thống kê UNDP và
World Bank về kinh tế VN
2. Nội Bộ CSVN đấu tố: Cảnh
báo bên bờ sụp đổ, trang nhà http://www.DCvaPT.org, mục Thời sự
3. Trang nhà FDA nói về lí do
cầm giữ các lô hàngVNhttp://www.fda.gov/ora/oasis/12/ora_oasis_c_vn.html
4. Làm ǵ cho nông thôn, Thời
Báo Kinh tế Saigon, 2003.
5.US Commission on
International Religious Freedom - Report on Vietnam, May 2003, U.S.
Commission on International Religious Freedom 800 North Capitol Street,
NW, Suite 790, Washiton,DC20002,Tel:2025233240;;202523520 (fax);www.uscirf.govhttp://www.uscirf.gov
6. Cùng tác giả
“Qui
tŕnh đổi mới của ĐCS TQ hay diễn biến hoà b́nh theo kiểu TQ”, DC&PT số
25.
7. TS Vơ Nhơn Trí “Việt-Nam
Cần đổi mới Thật Sự”,
Nhà xuất bản Đông Á, 2003.
P.O. Box 99, 2147 Commercial
Drive, Vancouver, BC V5N 4B3, Canada.
|