DC&PT - Thời Sự

 

 

 

 T́nh H́nh Đông Bắc Á Châu Trở Nên Bất Ổn

 

Nhật và Hoa-Kỳ Tăng Cường Hợp Tác

Trước Sự Bành Trướng Quân Lực và Đe Dọa Tấn Công Đài Loan Của Trung Quốc

 

NGUYỄN QUỐC KHẢI

                                                                                  

(Trích Việt Mercury, 11.03.2005)

 

            Vào ngày thứ Bẩy, 19.02 vừa qua tại thủ đô Hoa-Kỳ với sự có mặt của bộ trưởng Ngoại Giao Nobutaka Machimura và Giám Đốc Quốc Pḥng Nhât Bản Yoshinori Ono, hai nước đă chính thức cập nhật hóa thỏa hiệp Liên Minh An Ninh Mỹ Nhât (U.S. – Japan Security Alliance), và công bố một bản thông cáo. Theo đó Đài Loan lần đầu tiên được xác nhận là vấn đế an ninh chung đáng lưu tâm của cả hai nước. Đây là một sự thay đổi đáng kể trong sự hợp tác giữa hai cường quốc kể từ năm 1996. Ngoài ra, theo thoả thuận của đôi bên, Nhật Bản sẽ đóng một vai tṛ quan trọng hơn về mặt quân sự tại Á châu và các vùng khác. 

 

            Hiến Pháp Nhật Bản soạn thảo bởi Hoa-Kỳ sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, ngăn cấm Nhật Bản tham dự vào chiến tranh. Tuy nhiên, có nhiều áp lực đ̣i tu chính hiến pháp để lực lượng  pḥng vệ của Nhật Bản có thể hành động như một quân lực thực sự. Lần đầu tiên, Nhật Bản và Hoa-Kỳ chính thức đạt được một thỏa hiệp hợp tác an ninh là vào năm 1960.

 

            Kể từ khi công nhận Hoa Lục vào năm 1972, Nhât Bản chỉ gián tiếp đề cập đến các vấn đề liên quan đến Đài Loan. Đây là lần đầu tiên Nhât Bản trực tiếp có thái độ về ḥn đảo với 23 triệu dân này. Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan trong khoảng thời gian 1895-1945.  Mặc dù vậy, dân Đài Loan vẫn có thiện cảm với Nhật Bản. Đây là trường hợp hiếm thấy ở Á châu.  Vào tháng 12 vừa qua, Nhật Bản cấp chiếu khán cho cựu Tổng Thống Đài Loan là ông Lư Đăng Huy (Lee Teng-Hui) sang viếng thăm ông thầy Nhật Bản cũ trước sự phản kháng của Bắc Kinh.

 

            Những biến đổi gần đây tại Hoa Lục và vùng Đông Hải làm Nhật Bản và Hoa-Kỳ lo ngại.  Trong những năm gần đây, Trung Quốc đă tối tân hóa quân lực và bành trướng ảnh hưởng ở châu Á nhờ vào sự phát triển kinh tế liên tục và manh mẽ.  Ngày 16.2 vừa qua điều trần trước Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện, ô. Porter J. Goss, Giám Đốc Cơ Quan T́nh Báo Trung Ương (Central Intelligence Agency) cảnh cáo rằng “Việc tối tân và bành trướng quân lưc của Trung Quốc sẽ làm lệch sự quân bằng lực lượng ở eo biển Đài Loan. Khả năng cải tiến của Trung Quốc là một mối đe dọa cho quân lực của Hoa-Kỳ ở trong vùng.” Cũng trong tuần vừa qua, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Donald Rumsfeld nói rằng Hoa-Kỳ lo ngại về sự bành trướng của Hải Quân Trung Quốc. Hoa-Kỳ dự đoán rằng trong ṿng 5 năm tới, Trung Quốc sẽ có khoảng 20 tầu ngầm tấn công tối tân trong đó khoảng 6 chiếc chạy bằng nguyên tử.  Đô Đốc Lowell Jacoby, Giám Đốc Cơ Quan T́nh Báo Quân Sự (Defense Intelligence Agency), cũng đưa ra những nhận xét tương tự. Tuy nhiên Bắc Kinh đă vội vă bác bỏ tất cả những lới tuyên bố vừa kể. 

 

            Tin tức t́nh báo cho biết Ngân sách quốc pḥng của Trung Quốc gia tăng trên 10% mỗi năm và đang dồn nỗ lực chế tạo hỏa tiễn tầm ngắn, chiến hạm và phi cơ được trang bị dụng cụ điện tử. Tất cả đều nhắm đe dọa Đài Loan.  Vào mùa thu năm nay, Hoa-Kỳ sẽ hoàn tất Phúc Tŕnh Duyệt Xét T́nh H́nh Quân Sự Bốn Năm (Quadrennial Defence Review).  Chắc chắn, Trung Quốc sẽ là một yếu tố được nghiên cứu kỹ lưỡng trong bản phúc tŕnh này.  

 

            Trong bản phúc tŕnh về T́nh H́nh Quốc Pḥng phổ biến vào cuối năm 2004, Trung Quốc cho rằng chi tiêu về quốc pḥng thấp hơn một cách đáng kể so với nhiều nước Tây phương về con số tuyệt đối cũng như về tỉ lệ chi tiêu trên tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product). Bản phúc tŕnh này tái xác định rằng Trung Quốc tiếp tục tôn trọng hai nguyên tắc đă theo đuổi lâu nay: “một quốc gia và hai hệ thống” và “thống nhất lănh thổ trong ḥa b́nh” của Trung Quốc. Tuy nhiên, Hoa Lục sẽ không ngần ngại dùng vơ lực và sẵn sàng trả bằng mọi giá để đập tan mọi âm mưu đ̣i độc lập của Đài Loan. [1]

 

            Khi nhậm chức nhiệm kỳ đầu, Tổng Thống George W. Bush hứa đối xử với Trung Quốc như một nước cạnh tranh chiến lược (strategic competitor).  Sau khi xẩy ra tai nạn liên quan đến phi cơ gián điệp trong vùng biển Nam Hải, Hoa Kỳ bận bịu về cuộc chiến ở Afghanistan và rất muốn Trung Quốc hợp tác trong chiến dịch chống khủng bố, Tổng Thống Bush đă tỏ ra thân thiện hơn với Trung Quốc dù rằng quốc gia Á châu này ngày càng muốn chứng tỏ uy thế đang lên của ḿnh.   

 

            Trung quốc tiến chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và nuôi tham vọng kiểm soát toàn vùng Nam Hải, từ đảo Hải Nam xuống gần Mă Lai và Nam Dương.  Theo một phúc tŕnh nội bộ của Bộ Quốc Pḥng Hoa-Kỳ, Trung Quốc hỗ trợ chính phủ độc tài quân phiệt Miến Điện và kư kết hiệp định hợp tác với nước này. Miến Điện cho phép Trung Quốc được xây cất và sử dụng những hải cảng trên vùng duyên hải Miến Điện bên bờ biển Andaman, nh́n ra Ấn Độ Dương.  Hơn nữa Trung Quốc đă có những thỏa hiệp để sử dụng hải cảng Chittagong của Bangladesh và Gwadar của Pakistan cho cả hai mục tiêu thương mại và quân sự.  Đặc biệt, Trung Quốc đang cứu xét một thỏa hiệp với Thái Lan để xây cất môt con kênh đào với tổn phí 20 tỉ Mỹ kim, xuyên qua giải đất hẹp Kra Isthmus, nối liền Vịnh Thái Lan ở phía đông với biển Andaman ở phía tây để tầu bè có thể đi qua Âu châu và Phi châu mà không phải chạy qua eo biển Malacca giữa Mă Lai và Nam Dương. [2]

 

            Hai năm trước Trung Quốc cho phép các công ty tư nhân và ngoại quốc khởi sự t́m kiếm dầu và khí đốt cách vùng biển mà Nhật Bản cho là thuộc lănh hải của Nhật chỉ có 3 dặm, cách Đài Loan 100 dặm về phía bắc và nằm trong vùng kinh tế đặc biệt của Nhật Bản về phía nam của Okinawa. Người ta tin là có nhiều dầu và khí đốt trong khu vực này. Nhật Bản đă phản ứng mạnh vào đầu tháng 2 vừa qua bằng cách chiếm lại ḥn đảo có ngọn hải đăng do người Nhật xây vào năm 1978.

 

            Vào Tháng 11 năm ngoái, một tầu ngầm của Trung Quốc xâm nhập hải phận cực nam của Nhật. Phi cơ Nhật được phái đi để lùng kiếm trong hai ngày.  Các quan sát viên quốc tế cho rằng Trung Quốc muốn thử phản ứng của Nhật trong trường hợp Trung Quốc tiến đánh Đài Loan.

 

            Trong sáu thập niên vừa qua, Nhật Bản theo đuổi chính sách ḥa b́nh và đă tránh né mọi xung đột với Hoa Lục v́ cả hai nước đều muốn tập trung vào việc phát tiển đầu tư và buôn bán song phương.  Vốn đầu tư của Nhật đổ vào Hoa Lục đă giúp nước này không bao lâu nữa sẽ trở thành một cường quốc. Trong năm vừa qua, Trung Quốc đă vượt qua Hoa-Kỳ và thành một đối tác thương mại quan trọng nhất với Nhật bản.

 

            Trước sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc, chính sách đối ngoại của Nhật Bản đă thay đổi rơ rệt với thái độ mới cũa Nhật về vấn đề Đài Loan và  hợp tác chặt chẽ hơn về mặt quân sự với Hoa-Kỳ. Ô. Shinzo Abe, xử lư thường vụ Tổng Thư Kư Đảng Dân Chủ Tự Do đang cầm quyền, người được coi như sẽ thay thế đương kim Thủ Tướng Junichiro Koizumi, tuyên bố rằng: “Thật là nhầm lẫn nếu chúng ta ra dấu hiệu cho Trung Quốc rằng Hoa-Kỳ và Nhật Bản sẽ không can thiệp và đứng nh́n Trung Quốc xâm chiếm Đài Loan bằng vơ lực.” Ông nói tiếp: “Nếu t́nh trạng chung quanh Nhật Bản đe dọa an ninh của chúng tôi, Nhật Bản có thể hỗ trợ quân lực Hoa-Kỳ.“ Bản phúc trính về t́nh h́nh quốc pḥng của chính phủ Nhật Bản nhận định rằng Trung Quốc là một mối đe dọa tiềm tàng cho Nhât Bản. [3] V́ t́nh h́nh trở nên sôi đọng hơn trong vùng Đông Bắc Á châu, nội các của chính phủ Nhật Bản trong tuần qua đă cho phép giám đồc Nha Quốc Pḥng được ra lệnh chống hỏa tiến đang bay tới mà không cần có sự chấp thuận của nội các và Hội Đồng An Ninh. Hai năm trước, Nhật đă bắt đầu thiết lập hệ thống chống hỏa tiễn mua của Hoa-Kỳ.  Theo dự trù, toàn bộ hệ thồng chống hỏa tiễn sẽ được hoàn tất vào năm 2010.

 

            Hợp tác giữa Hoa-Kỳ và Nhật Bản gây phản ứng tức giận từ chính phủ Bắc Kinh nhưng được Đài Loan niềm nở đón nhận. Ông Trần Đường Sơn (Chen Tan-sun), bộ trưởng Ngoại Giao của Đài Loan cho rằng lời tuyên bố của Hoa-Kỳ và Nhât Bản làm cho an ninh của Đài Loan được bảo đảm hơn.  Tuy nhiên ông Tô Khởi (Su Chi), một lănh tụ cao cấp của Trung Hoa Quốc Dân Đảng và một nhà lập pháp, cựu Chủ Tịch Hội Đồng Hoa Lục Sự Vụ, cảnh cáo rằng thỏa hiệp Mỹ-Nhật giúp cho Đài Loan có an ninh hơn, nhưng làm giảm chủ quyền của Đài Loan. Ông cho rằng tốt hơn hết Đài Loan nên giữ trung lập và để cho các cuờng quốc cạnh tranh với nhau. [4] Nhật và Hoa-Kỳ tăng cường sự hợp tác để tạo một lực lượng nhằm đối phó với khối Nga-Hoa có vẻ đang thành h́nh.  Nhiều dấu hiệu cho thấy hai nước này đă xích lại gần với nhau hơn kể từ thập niên 60. Thí dụ hai nước đang chuẩn bị thao diễn quân sự đầu tiên sau hơn 40 năm.

 

            Trung Quốc cho là Hoa-Kỳ và Nhật Bản đă vi phạm chủ quyền của Trung Quốc khi đề cập đến Đài Loan, một ḥn đảo của trung quốc, trong thông cáo chung về sự  hợp tác quân sự giữa Hoa-Kỳ và Nhật Bản.  Trung Quốc cho rằng việc hai quốc gia này chỉ trích sự bành trướng quân lực của Trung Quốc là phi lư. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc tuyên bố rằng: “Chính sách ngoại giao và quốc pḥng của Trung Quốc nhắm vào việc phát triển kinh tế trong vùng và không làm cho các nước lân bang cần thiết phải lo ngại.”

 

            Vào tháng tháng 3 năm nay, Quốc Hội bù nh́n của Trung Quốc dự trù sẽ thông qua một đạo luật đ̣i hỏi Trung Quốc tấn công Đài Loan, nếu lănh thổ này tuyên bố độc lập. Chi tiết về nội dung của dự luật này chưa được tiết lộ. Hoa-Kỳ và Nhật Bản mặc dù đều công nhận Hoa Lục và chủ trương một nước Trung Hoa, nhưng muốn giữ nguyên t́nh trạng hiện nay giữa Hoa Lục và Đài Loan.  Hoa-Kỳ và Nhật Bản đang gây áp lực để Trung Quốc làm giảm hiệu lực của dự luật này. Tuy nhiên Băc Kinh không có dấu hiệu nào muốn bước lui.  Hoa-Kỳ công nhận Bắc Kinh vào năm 1979 dưới thời Tổng Thống Jimmy Carter và ban hành Taiwan Relations Act vào 4 tháng sau. Theo luật này, Hoa-Kỳ buộc phải giúp Đài Loan tự vệ nếu an ninh của lănh thổ này bị đe dọa. [5]

 

            Trong khi đó, Tổng Thống Đài Loan Trần Thủy Biển (Chen Shui-bian) cảnh báo rằng nếu Trung Quốc thông qua dự luật chống ly khai (anti-secession law), Đài Loan sẽ bắt buộc phải trưng cầu dân ư để chống lại đạo luật đó hoặc làm ra luật chống sát nhập (anti-annexation law). Tổng Thống Trần Thủy Biển nói đây là điều mà chính phủ Đài Loan và ông đều không muốn xẩy ra.  Vào cuối năm ngoái, ô. Trần Thủy Biển kêu gọi sử dụng danh xưng “Đài Loan” (Taiwan) nhiều hơn thay v́ “Cộng Ḥa Trung Hoa” (Republic of China). Tuy nhiên Hoa-Kỳ không ủng hộ hành động này.

 

            Mặt khác điều làm cho cả Hoa-Kỳ lẫn Nhật lo ngại là Liên Hiệp Âu Châu (LHAC) gần như chắc chắn sẽ chấm dứt quyết định cấm bán vơ khí cho Trung Quốc vào tháng 6 sắp tới. Quyết định này có hiệu lực từ 1989 sau khi Trung Quốc nổ súng vào đám sinh viên biểu t́nh bất bạo động đ̣i tự do dân chủ tại Quảng Trường Thiên An Môn cho đến nay.  Hoa-Kỳ cho rằng bán vơ cho Trung Quốc là chuyển giao kỹ thuật và sẽ làm mất thăng bằng về quân sự tại Á châu.

 

            Vào đầu tháng 2 vửa qua Hạ Viện Hoa-Kỳ đă thông qua một nghị quyết với số phiếu 411-3 lên án kế hoạch của  Liên hiệp Âu châu (LHAC) bán vũ khí cho Trung Quốc. TNS Richard Lugar, Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện, tuyên bố rằng ông sẽ ủng hộ việc hạn chế bán vũ khí tối tân cho Âu Châu ngoại trừ có sự bảo đảm rơ rệt rằng kỹ thuật tối tân sẽ không bị chuyển giao cho Trung Quốc khi lệnh cấm vận vơ khí được băi bỏ.  LHAC bán vũ khi cho Trung Quốc là đổ thêm dầu vào lửa, nhưng đă dậy cho Hoa-Kỳ một bài học là Hoa-Kỳ cần đến Âu châu, kể cả Nga,  và không thể tiếp tục chính sách hành động đơn phương.  Hoa-Kỳ c̣n ba tháng nữa để mặc cả với Âu châu.

 

            Việc hợp tác quân sự với Nhật trong vấn đề Đài Loan và chống lại việc băi bỏ lệnh cấm bán vơ khi cho Trung Quốc sẽ làm cho Hoa-Kỳ gặp khó khăn trong việc thuyết phục Trung Quốc hợp tác để giải quyết vấn đề sản xuất vơ khi nguyên tử của Bắc Hàn.  Ḷ lửa Đông Á âm ỉ lâu nay đột nhiên sôi động trở lại.  Ḥa b́nh của vùng này chỉ có thể được duy tŕ một khi những vụ tranh chấp về chủ quyền của những ḥn đảo ở rải rác từ hải phận phía cực bắc Nhật Bản chạy dài xuống Nam Hải, giáp ranh với Mă Lai, nằm dọc theo thềm lục địa phía Tây Thái B́nh Dương, đặc biệt là Kunashir, Senkaku, Đài Loan, Hoàng Sa, và Trường Sa. 

 

            Nếu vấn đề chế tạo vơ khí nguyên tử của Bắc Hàn làm cho Trung Quốc, Nga, Nhật, và Hoa-Kỳ hợp tác với nhau, th́ vấn đề Đài Loan cộng với việc tranh chấp chủ quyền về lănh hải và một số hải đảo làm những quốc gia này chia làm hai khối. Một bên là Trung Quốc và Nga và bên kia gồm Đài Loan, Nhật Bản, và Hoa-Kỳ. T́nh h́nh căng thẳng tại vùng Đông Bắc Á Châu nếu không làm cho chiến tranh bùng nổ, cũng sẽ thúc đẩy các phe, kể cả Nam Hàn và Việt-Nam, và nhất là Nhật Bản và Trung Quốc, thi đua vơ trang.  Tài nguyên dùng để phát triển kinh tế sẽ giảm. Đầu tư vào cả khu vực sẽ bị xáo trộn.  Mức tăng trưởng cao của toàn vùng mà lâu nay được thế giới thán phục sẽ khựng lại.  Ba thập niên chung sống ḥa b́nh có nguy cơ bị chấm dứt dưới sự đe dọa của một xung đột quân sự.  Nếu Việt-Nam khôn ngoan th́ nên đứng tránh qua một bên và nên lợi dụng cơ hội này để tạo thế đứng độc lập với khối Nga-Trung, chứ đừng dại dột trung thành với những nước xă hội chủ nghĩa anh em cũ, trông đợi một “giải pháp đỏ” và t́nh nguyện thi hành nghĩa vụ quốc tế một lần nữa.

 

Chù thích:

 

[1] People’s Republic of China, “China's National Defense in 2004,” Beijing, December 27, 2004.

Also People’s Daily, “China Issues White Paper on National Defense,” Bejing, December 27, 2004. .

[2] Bill Gertz, “China Builds Up Strategic Sea Lanes,” The Washington Times, Washington, DC, January 18,  2005

[3] Anthony Faiola, “Japan to Join US Policy on Taiwan,” Washington Post, February 18, 2005.

[4] Jane Rickards, “Taiwan Welcomes U.S. - Japan Cross Strait Policy,” China Post, February 19, 2005.

[5] The 96th U.S. Congress, “Taiwan Relations Act – Public Law 96-8”, Washington, DC April 10, 1979.

 

 

 

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục