|
|
DC&PT - Thời
Sự 2009
VÌ NHÂN DÂN QUÊN MÌNH
BÙI MINH QUỐC
Trân trọng gửi đến đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng
các đồng đội cựu kháng chiến và các bạn trẻ.
(Đã gửi báo Nhân dân, báo Quân đội Nhân dân, báo Văn Nghệ, kính
nhờ BAUXITE.VN.NET và TRANNHUONG.COM công bố giùm trong khi chờ đăng)
I
Vì Nhân Dân quên mình
Vì Nhân Dân hy sinh
Lời nguyện ấy trọn tâm thành ta hát
Tận tụy một đời mấy cuộc trường chinh
Trải mấy cuộc trường chinh
với bao hy sinh không kể siết để có được một đất nước hòa bình độc lập
thống nhất, nhưng trên đất nước độc lập thống nhất này, sau 34 năm hòa
bình xây dựng, nhân dân ta đang sống trong tình cảnh thế nào ?
Câu
trả lời của tôi là :
-Bị
cướp đất
-Bị
bịt miệng
Tất cả mọi người Việt Nam
hôm nay khi nằm xuống thì mảnh đất chôn mình cũng không phải của mình, cả
nơi yên nghỉ của cha mẹ tổ tiên mình cũng thế. Lên tiếng khẳng định Hoàng
Sa Trường Sa là của Việt Nam thì bị quật cổ xuống đường, bị bắt giam, bị
cách chức, bị nghỉ việc, bị rút thẻ hành nghề. Các bức thư của vị đại
tướng đại công thần Võ Nguyên Giáp đóng góp ý kiến về việc quốc gia đại
sự thì không được đăng, nói gì đến đơn khiếu kiện của muôn vạn người dân
oan ức, đến tiếng nói phản biện của tổ chức nghiên cứu tư nhân đầu tiên lập
ra bởi các trí thức gạo cội chí cốt của Đảng nhờ chủ trương đổi mới –
Viện nghiên cứu phát triển (IDS), trong khi tổng biên tập báo điện tử Đảng
CSVN tiếp tay nối lời cho giặc bành trướng thì ngang nhiên tại vị. Thậm
chí quyền con người của ngay cả người khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh, cái quyền tự do cuối cùng nhỏ nhoi bình
thường đơn sơ nhất là khi qua đời thân xác được đem đốt đi, quyền ấy cũng
bị gạt bỏ bằng một ứng xử rất xa lạ với cách mạng, thậm chí có thể ẩn
chứa một mánh khóe chính trị thâm hiểm : Nhân danh tình cảm nhân dân dùng
một phương thức phi tự nhiên để biến người lãnh đạo cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ thành một hoàng đế Ai-cập cổ đại nhưng vô cùng khốn khổ vì
ngày ngày bị phơi ra trước bao con mắt hoặc sùng kính thương cảm hoặc tò
mò vô cảm .
Tôi tự hỏi : Một
đảng gọi là đảng khoa học và cách mạng, là tinh hoa của lương tâm và trí
tuệ, một đảng đặt quyền lợi của Tổ Quốc , của Nhân dân lên trên hết, một
đảng vì Nhân dân quên mình, một lực lượng vũ trang vì Nhân dân quên mình,
một lực lượng trí thức văn nghệ sĩ vì Nhân dân quên mình, có chấp nhận
được tình trạng hết sức ngược đời nêu trên không ?
Câu trả lời của tôi là :
-Không, dứt khoát không
!
*
Ngay tại hành lang Quốc Hội kỳ họp thứ 6
khóa 12, tháng 11.2009, phó đoàn đại biểu quốc hội TP Cần Thơ Huỳnh Văn
Tiếp nói : Phải kiểm tra xem với động cơ gì mà 110 người ký đơn
xin ở tù thay cho bà Trần Ngọc Sương, giám đốc nông trường Sông Hậu (bị
kết án 8 năm tù về tội “lập quỹ trái phép”) ?
Tất yếu phải đặt ngay các vấn đề :
- Với động cơ gì mà đại biểu Huỳnh Văn
Tiếp, trước sự kiện (chưa từng có trong lịch sử hoạt động tư pháp của chế
độ ta) cả trăm người dân đòi ở tù thay cho bị cáo - một anh hùng thời đổi
mới vốn là người lãnh đạo họ; ông Tiếp không chịu đến ngay với dân để tìm
hiểu tâm tư nguyện vọng dân mà lại lập tức lớn tiếng đòi kiểm tra động cơ
của họ ? Vậy ông là đại biểu của
ai, nói tiếng nói của ai, trên lập trường lợi ích nào,với động cơ gì ?
- Với động cơ gì mà bí thư Nguyễn
Tấn Quyên, phó bí thư Nguyễn Thanh Vận TP Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra
khởi tố tội này tội nọ cho anh hùng Trần Ngọc Sương, bất chấp qui định
của Đảng cấm ngặt cấp ủy Đảng can thiệp cụ thể vào công tác điều tra ?
- Với động cơ gì mà thành ủy Cần Thơ
dự tính qui hoạch lập khu đô thị mới ở một vùng đất, trong đó có đất của
nông trường Sông Hậu và nông trường Cờ Đỏ, là vùng tối ưu để làm nông
nghiệp, hơn nữa lại là thành quả dày công khai phá bao năm trường của
hàng vạn nông dân dưới sự lãnh đạo can đảm và năng động của cha con hai
người anh hùng đã được tôn vinh ?
- Với động cơ gì mà trong một thời
gian rất ngắn hàng loạt các cơ quan, cán bộ cao cấp, đại biểu quốc hội,
lão thành cách mạng, luật gia, nhà báo, nhà văn đã bày tỏ phản ứng mạnh
mẽ, cùng với phản ứng sôi sục của công luận rộng rãi, trước bản án “vô
lý” - như phó chủ tịch liên đoàn
luật sư VN nhận xét - đối với anh hùng Trần Ngọc Sương ?
- Với động cơ gì mà trước kia bí thư
tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc, rồi các cán bộ chủ chốt của thành ủy Hải Phòng
dám xé rào giáo điều thực hiện khoán chui tạo cơ sở thực tiễn cho sự ra đời
của chủ trương khoán 10 giải phóng sức sản xuất cho mấy chục triệu nông
dân Việt Nam, đưa đất nước thoát cảnh năm nào cũng phải đi xin viện trợ
lương thực bước lên vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo ? Với động
cơ gì mà bí thư thành ủy TP HCM Võ Văn Kiệt, bất chấp hiểm nguy đến có
thể mất chức mất Đảng dám xé rào giáo điều thực hiện hàng loạt biện pháp
đổi mới ở địa phương tạo tiền đề thực tiễn cho đường lối đổi mới trên qui
mô toàn quốc ? Với động cơ gì mà cha con hai
người anh hùng Trần Ngọc Hoằng, Trần Ngọc Sương hiến dâng cả đời mình gây
dựng một vùng đất từ sình phèn hoang vu thành đất sống ổn định trù phú
cho hàng vạn nông dân trong khuôn khổ bức bối của một cơ chế đầy rẫy
những thắt buộc nguy hiểm đối với tất cả những ai tích cực chủ động năng
động làm việc vì dân vì nước ?
Vậy đó, động cơ và động
cơ.
Động cơ vì Nhân dân quên mình của
những Kim Ngọc, những cán bộ chủ chốt của thành ủy Hải Phòng, những Võ
Văn Kiệt, Trần Ngọc Hoằng, Trần Ngọc Sương thì hiển lộ ngời ngời với
những thành quả mà họ đã tạo nên và được chính thức tôn vinh.
Còn động cơ của các cán bộ chủ chốt trong
thành ủy Cần Thơ ?
Các cán bộ ấy chỉ hối hả đòi xem xét động cơ
của dân chứ không bao giờ dám tự nói ra cái động cơ sâu xa giấu kỹ trong
quả tim chẳng ai biết đen đỏ thế nào của họ.Thế thì cơ quan lãnh đạo tối
cao phải cùng với công luận tiến hành xem xét cái thứ động cơ thầm kín
này.
Tôi có mấy ý kiến xin nêu ra để mong được
trao đổi góp phần vào việc xem xét động cơ của họ.
Việc xem xét cần phải đặt trong tình trạng
Đảng cầm quyền hiện nay có mấy đặc điểm sau :
- Vai trò của các
cấp ủy Đảng từ cơ sở cho tới Bộ chính trị trong thực hiện nhiệm vụ chống
đại quốc nạn nội xâm rất yếu kém (đồng thời trong nhiệm vụ chống đại quốc
họa bành trướng cũng rất yếu, xin đọc bài “Chống diễn biến hòa bình
của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc” của cùng tác giả
trên mạng internet tháng 01.2009).
- Công tác cán bộ nhiều năm ròng, và đến nay vẫn thế,
nằm trong tay một người hoặc một nhóm người tiến hành trong vòng bí mật
sắp đặt ghế theo bè phái rồi sắp đặt những cuộc đại hội hình thức, bầu cử
hình thức để hợp thức hóa ghế, nạn “chạy” chức diễn ra ở hầu hết mọi cấp
mọi ngành mọi địa phương, công tác chỉnh đốn Đảng trở thành chỉnh đốn
ngược, càng chỉnh đốn giặc nội xâm vào cấp ủy ngày càng đông đã chiếm chỗ
ít nhất 51% trong các cấp ủy kể cả Bộ chính trị.Chắc chắn không thể không
có bọn tay sai bành trướng nằm trong cấp ủy mà công tác bảo vệ chính trị
nội bộ vô tình hoặc cố ý chưa phát hiện và xử lý.
- Từ chỗ là một bộ
phận thoái hóa biến chất bởi một thứ cá nhân chủ nghĩa cực kỳ ngoan cố,
giặc nội xâm kéo bè kết cánh trong Đảng dùng con dấu đỏ làm “vũ khí sắc
bén” núp sau thẻ đỏ tranh thủ từng ngày từng tháng từng quý từng năm từng
nhiệm kỳ đua nhau ăn cắp ăn cướp tích lũy siêu tốc thành một thế lực kinh
tế chính trị thao túng nhiều hoạt động của Nhà nước trong đó có hoạt động
tư pháp. Sự thao túng đó diễn ra có hệ thống kéo dài đã thành qui trình
tinh vi và xảo quyệt từ khâu hoạch định các chủ trương, các dự luật, các
dự án v.v…đến khâu thực hiện, bằng mọi thủ đoạn kể cả lách nghị quyết,
lách luật, thậm chí dẫm đạp lên nghị quyết và luật pháp.
Đại quốc nạn tham nhũng - nội xâm không chỉ
là vấn đề đạo đức nữa mà đã trở thành đại quốc nạn kinh tế - chính trị,
một mối đại họa đe dọa sự sống còn của Đảng, như nhiều lão thành cách
mạng đã cảnh báo từ lâu. Nhà cách mạng lão thành Trần Độ lúc sinh thời đã
thẳng thắn vạch rõ : Đảng không những mất sức chiến đấu mà mất cả sức
sống. Tôi muốn nối thêm một ý này : khi đại đa
số đảng viên và lực lượng vũ trang kiên định giữ trọn phẩm chất vì nhân
dân quên mình thì ngay trong lòng các cấp ủy đảng lại bạo phát một thứ
“sức sống” hoang dã vận hành bởi một thứ động cơ đen tối bên ngoài dán
nhãn hiệu “đầy tớ nhân dân” bên trong là năng lượng hỗn mang của lòng tham
vô đáy say cuồng và mê muội sôi sục suốt ngày đêm.
Dư luận nêu nghi vấn : Có vấn đề động cơ đất
đai khiến một số cán bộ chủ chốt của thành ủy Cần Thơ phải liều lĩnh dẫm
đạp lên nguyên tắc đảng ra mặt chỉ đạo cụ thể can thiệp vào công tác điều
tra (và không loại trừ cả khâu xét xử), để quyết thực hiện bằng được một
bản án thật nặng cho bà Trần Ngọc Sương khi người nữ anh hùng này, vì lo
cho số phận hàng vạn nông dân, đã không giao lại đất nông trường, gây cản
trở cho cái dự án đô thị mới mà người ta đang nhăm nhe hoạch định ( Xin
đọc bài của nhà báo Huy Đức dẫn lời được ghi âm của ông Phạm Thanh Vận nói
với bà Trần Ngọc Sương ngày 25-10-2007: “Chị nghỉ nhưng làm sao
cho hạ cánh an toàn trong danh dự nếu giao lại đất Nông trường”).
Tôi cho rằng, đằng sau động cơ
đất đai đã hiển lộ khá rõ, còn là một mưu toan hết sức hiểm độc về chính
trị tư tưởng và văn hóa của thế lực nội xâm (có thể bản thân các cán bộ
chủ chốt của thành ủy Cần Thơ cũng chưa tự ý thức được điều này); nó
ngang nhiên và lì lợm phát ra cho toàn xã hội, nhất là lớp trẻ, một thông
điệp đen : đừng dại khờ lựa chọn lẽ sống vì dân vì nước như cha con bà
Sương, như đa số đảng viên và cựu chiến binh, hãy cứ sống theo cách vừa
hô thật to Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm, chủ nghĩa Mác Lê-nin
vô địch muôn năm, kinh tế thị trường (nhất là thị trường ghế) định hướng
xã hội chủ nghĩa muôn năm, vừa tranh thủ ra sức kiếm ghế mua ghế bám ghế
leo ghế ngày càng cao theo phương thức dùng chuyên chính vô sản tích lũy
tư bản để đạt tới “thiên đường cộng sản” của một giai cấp đại tài phiệt
đỏ nói như rồng leo làm như mèo mửa và hưởng theo nhu cầu trên cái “gốc”
là nhân dân lầm than và phẫn uất nhưng bị bưng bít thông tin nên vẫn cứ
thều thào “ơn Đảng”.
Vụ án anh hùng Trần Ngọc Sương diễn ra trong
một môi trường pháp lý mà cán cân công lý nằm trong tay những cấp ủy đã
bị giặc nội xâm thao túng, từng đẻ ra bao phiên tòa mà chánh án tòa án
nhân dân tối cao Nguyễn Văn Hiện lúc đương nhiệm đã gọi huỵch toẹt “xử thế nào cũng được”.
Để sáng tỏ được công lý trong vụ án này cũng
như vô số vụ án khác tương tự, thì trước hết cần phải khẳng định dứt
khoát cái công lý thiêng liêng bao
trùm ngàn đời sau đây : Chủ sở hữu đích thực của đất nông trường Sông Hậu
chính là những người nông dân cùng cha con bà Sương đã dốc tâm dồn trí
bền lực tiếp nối các lớp tiền bối của mình bao đời bao năm khai phá bồi
đắp nên chứ không phải là một thứ “sở hữu toàn dân” mông lung. Một sự thật sờ sờ ai cũng thấy : cái gọi là “sở hữu toàn dân” mông lung đã mau chóng biến thành túi
vàng két bạc của vô số những người có chức quyền nhân danh cách mạng để
làm vua quan cách mạng, khiến đất nước rối bời lên không thể tả về chuyện
đất đai và còn rối bời chưa biết đến bao giờ.
Hãy hình dung, nếu ngay từ đầu ta không
thành lập nông trường quốc doanh mà để những người nông dân khai hoang
đến đâu được cấp quyền sở hữu đất đến đấy, ai có chứng từ sở hữu trong
quá khứ được tiếp tục thừa nhận (quyền sở hữu tư nhân vĩnh viễn chứ không
phải quyền sử dụng có thời hạn), rồi họ góp thóc góp tiền trả công xứng
đáng cho người đã lãnh đạo tổ chức họ gây dựng cơ nghiệp là ông Trần Ngọc
Hoằng (tiếp đến là bà Trần ngọc Sương), rồi khi nhu cầu phát triển sản
xuất thúc đẩy họ hợp tác với nhau, tất yếu sự hợp tác sẽ diễn ra một cách
tự nguyện và nhất định họ chỉ bầu người mà họ thấy là gương mẫu nhất,
đáng tin cậy nhất đứng ra lãnh đạo điều hành cái hợp tác xã đúng nghĩa
ấy, rồi cũng tất yếu hợp tác xã sẽ phát triển thành một công ty cổ phần
nông công thương tín do nông dân làm chủ từ sản xuất chế biến đến phân
phối trong và ngoài nước các sản phẩm do họ làm ra, thì tình hình sẽ thế
nào ? Chắc chắn mọi người từ nông dân đến cha con bà Trần Ngọc Sương sẽ
giầu có hơn rất nhiều, số thuế họ đóng cho nhà nước cũng lớn hơn rất
nhiều, sẽ không có chuyện mắc tội “lập quỹ trái phép” hay “tham ô” (tiền
của chính mình).
Như vậy, vụ án cần phải xem xét
khởi tố trước hết là vụ quốc hữu hóa tư liệu sản xuất.
Tôi tha thiết đề nghị các nhà lãnh đạo, nếu
thực lòng đặt Tổ Quốc lên trên hết, quyền dân lên trên hết, thực lòng vì
Nhân dân quên mình, hãy lập tức mời ngay các lão thành cách mạng, các ủy
viên Bộ chính trị và Trung ương các khóa, các đại biểu quốc hội đương
nhiệm và các khóa trước cùng các nhà khoa học thực hiện một cuộc tổng kết
thật cụ thể, thật chi tiết xem công cuộc quốc hữu hóa tư liệu sản xuất,
cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp tư nhân trước đây đã gây tổn
thất về vật chất và tinh thần cho đất nước cho nhân dân như thế nào.
Sau
1975, công cuộc quốc hữu hóa được thực hiện do đường lối xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên toàn quốc, xác lập tại đại hội Đảng lần thứ 4, tháng
12.1976. Đảng Lao động Việt Nam đổi thành Đảng Cộng Sản Việt Nam, nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, mất 2 chữ “dân chủ”, đồng thời cũng mất luôn một thể chế dân chủ đa
nguyên – thành quả của Cách mạng Tháng 8.1945 – được thiết lập năm 1946
qua cuộc phổ thông đầu phiếu đầu tiên trong lịch sử dân tộc, để thay bằng
4 chữ “xã hội chủ nghĩa” mà phần lớn những đảng viên tham dự đại hội 4
cùng lắm cũng chỉ hiểu đó là lý tưởng xa vời về một xã hội sung túc, tốt
đẹp, không có áp bức bất công và nhất thiết sẽ có “dân chủ gấp triệu lần”
(lời Lê-nin) các chế độ trước. Những quyết sách lớn quan hệ đến quyền
sống của từng người dân, đến vận mệnh của đất nước và của Đảng như vậy
lại được chuẩn thuận bởi một đại hội mà đa số đại biểu dự họp với tâm lý
và không khí một cuộc liên hoan mừng chiến thắng hơn là một cuộc bàn thảo
cặn kẽ để hoạch định đường lối chiến lược, như thủ tướng Võ Văn Kiệt đã
bày tỏ tâm sự lúc cuối đời.
10 năm sau, đại hội Đảng lần thứ 6 họp tháng
12.1986 đã chỉ ra sai lầm chiến lược của đại hội 4 và quyết định đường
lối đổi mới. Tuy nhiên, do những hạn chế lịch sử
của tình hình chính trị nội bộ, nên thay vì phải thẳng thắn nêu rõ “sai lầm về đường lối chiến lược” lại chỉ dừng ở mức “sai lầm về chỉ đạo
chiến lược”. Một cán bộ cao cấp, nguyên là bí thư đặc khu ủy Quảng
Đà trong chiến tranh được tổng bí thư Trường Chinh giao nhiệm vụ tham gia
nhóm nòng cốt chuẩn bị dự thảo văn kiện đại hội 6 kể với tôi, ngay sau
đại hội mấy hôm : Dự thảo lúc đầu ghi rõ “sai lầm về đường lối chiến lược”, nhưng đã diễn ra một cuộc
giằng co giữa khuynh hướng nhận sai lầm triệt để với khuynh hướng chỉ
nhận sai lầm nửa vời trong nội bộ còn khá mạnh, rốt cuộc đành phải tạm
nhân nhượng thay 2 chữ “đường lối”
bằng 2 chữ “chỉ đạo”). Tính nửa
vời đó đã để di lụy tai hại ghê gớm cho đến nay. Do chủ nghĩa cá
nhân và bệnh bè phái độc đoán phản dân chủ rất nặng ở một số cán bộ chủ
chốt cấp tối cao, các đại hội kế tiếp đều né tránh việc xem xét đánh giá
tình hình 10 năm từ 1976 đến 1986. Các chủ trương lớn có tính nền móng
của Đảng như “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, lấy dân làm
gốc, công khai dân biết dân bàn…” dần dần bị vô hiệu hóa bởi một
thế lực sợ sự thật, sợ dân có quyền, lấy việc bám ghế đè dân, bưng bít và
ngăn chặn cắt xén thông tin để tồn tại.
Bây giờ thì ai cũng thấy đường lối Đại hội 4
là một đường lối phiêu lưu duy ý chí đưa đất nước và Đảng đến bên bờ vực
thẳm.Nhưng không phải ai cũng thấy đây là cái duy ý chí, phiêu lưu và kiêu
ngạo sau đại thắng của một vài cá nhân theo chủ nghĩa cực quyền áp đặt
cho số đông để tình cảm cách mạng thay cho lý luận khoa học, để niềm tin
chân thật hồn nhiên vào cấp trên thay cho bản lĩnh tư duy độc lập của
người chiến sĩ cách mạng luôn lấy lợi ích của dân của nước làm tiêu chuẩn
để suy nghĩ và hành động. Và không phải ai cũng thấy, có một sự thật bấy
lâu luôn bị che giấu : Ở cấp lãnh đạo tối cao, từ rất sớm trước khi chuẩn
bị đại hội 4 đã có những ý kiến phản biện rất sáng suốt.
Ví
dụ :
-
Cuộc tấn công Tết Mậu
Thân – 1968 khi nổ ra được gọi chính thức là Tổng công kích - Tổng nổi
dậy (Tổng khởi nghĩa), ở chiến trường gọi tắt là 2T, nhưng trong quá
trình chuẩn bị, khi thảo luận ở cấp tối cao có ý kiến đề nghị chỉ nên xác
định là cuộc tập kích chiến lược vì không thể tiến hành tổng khởi nghĩa
đưa quần chúng tay không ra trước họng súng trong điều kiện chiến tranh
với một đối phương có lực lượng quân sự cực mạnh. Ý kiến này không được
lắng nghe và tiếp thu. Thực tế đã chứng minh ý
kiến này đúng. Cuộc tổng nổi dậy đã không nổ ra được. Trong năm 1968 ta
tiến hành 3 đợt tấn công vào đô thị ; đợt Tết, đợt tháng 5 và đợt tháng
8, bị tổn thất rất lớn, khó khăn chồng chất tưởng chừng không thể vượt
qua kéo dài suốt các năm 1968, 1969, 1970, nửa đầu 1971, nhiều nơi phải
đưa lính chủ lực miền Bắc xuống làm du kích (anh lính Phạm Trung Đỉnh
người Hải Phòng thuộc số này, may sống sót trở về, nay là nhà văn Trung
Trung Đỉnh, giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà văn).
-
Chiến dịch xuân hè 1972, sau khi ta giải phóng thị xã Quảng trị, ý kiến
phản biện từ giới quân sự yêu cầu không nên tổ chức phòng ngự dài ngày
giữa địa hình đồng bằng trống trải dưới hỏa lực cực mạnh đủ các cỡ kể cả
B52 của đối phương, nhưng ý kiến sáng suốt này đã không được lắng nghe và
tiếp thu, hậu quả là mỗi đêm chúng ta hy sinh một đại đội, sau hơn 60
ngày đêm phải rút lui.
- Trước 30.4.1975, trong cán bộ cao cấp của Đảng đã có ý kiến
đề xuất cần giữ quan hệ bình thường với chính quyền Mỹ khi ta tiến quân
vào giải phóng Sài Gòn, việc thống nhất đất nước cần tiến hành từng bước
để miền Nam tiếp tục duy trì các quan hệ chính trị kinh tế xã hội như
trước với các nước phương tây thì sẽ đạt được lợi ích tối ưu cho cách
mạng, nhưng ý kiến sáng suốt này đã không được chấp nhận. Sau 1975, ủy
viên Bộ chính trị Bộ trưởng bộ ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã nỗ lực xúc
tiến công tác đối ngoại theo hướng tăng cường quan hệ với phương Tây và
tìm cách tiến tới sớm đạt được quan hệ bình thường giữa ta và Mỹ, nhưng
rồi chính vì lẽ đó mà bộ trưởng bị gạt ra khỏi Bộ chính trị do sức ép của
thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Trung Quốc.
-
Tháng 5.1975, tại Đà Nẵng, tôi được học nghị quyết 24 của Bộ chính trị
trong đó có chủ trương giữ nguyên kinh tế thị trường với các thành phần
kinh tế tư nhân ở miền Nam – một chủ trương rất sáng suốt. Tất cả các
đảng viên đều rất phấn khởi với chủ trương này. Nhân dân nghe tin càng
rất phấn khởi và yên tâm. Nhưng nghị quyết chưa kịp triển khai thực hiện,
một thời gian ngắn sau đã bị phủ định bởi những nghị quyết mới tiếp tục
duy trì đường lối giáo điều đưa miền Nam vào chế độ kinh tế kế
hoạch tập trung bao cấp như miền Bắc.
-
Đối với dự thảo đường lối đại hội 4, nhiều ý kiến trong cán bộ lãnh đạo
cấp cao đã sớm chỉ ra tính phiêu lưu duy ý chí, hơn nữa lại trái với lời
dặn trong di chúc của Hồ chủ tịch : sau chiến tranh phải có giai đoạn
phục hồi kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.
Các ý kiến phản biện ở tầm chiến lược vừa nêu đã không
được tôn trọng lắng nghe, không được thảo luận dân chủ rộng rãi, ngược
lại tác giả của những ý kiến sáng suốt đó lại bị trù dập bị vô hiệu hóa
bằng nhiều cách. Vì không có dân chủ ngay cả ở hàng ngũ lãnh đạo tối cao,
nên Đảng đã mắc những sai lầm lớn về chiến lược và từ sai lầm dẫn đến
những tội lỗi lớn không những với dân với nước mà ngay cả đối với nhau
trong lớp chiến sĩ cách mạng khởi nghiệp.
Khi trong nội bộ cấp cao xảy
ra tình trạng dùng bạo quyền thay cho lẽ phải như thế là lập tức kẻ thù
bên ngoài lợi dụng.
Xin nhớ lại : tháng 5 .1984, kỷ niệm 30 năm ngày
chiến thắng Điện Biên, báo đài hầu như không nhắc gì đến đại tướng Võ
Nguyên Giáp. Ba tháng sau, tháng 7.1984, giặc bành trướng thực hiện ngay
chiến dịch tấn chiếm tuyến điểm cao núi Đất ( Hà
Giang ), ta tổn thất rất lớn, một số điểm cao trọng yếu dọc biên giới rơi
vào tay địch. Thông tin về mất mát đau thương lớn này cho đến nay vẫn
chưa được chính thức công bố, gần đây mọi người mới được biết qua blog
của nhà văn Phạm Viết Đào, người có em trai ruột hy sinh trong trận đánh
bảo vệ Tổ Quốc âm thầm ấy. Tại sao lại chủ
trương bưng bít thông tin về một sự kiện hệ trọng như vậy
? Đây vẫn là một câu hỏi lớn mà nhân dân và lực lượng vũ trang đặt
ra cho những người lãnh đạo. Cũng như nhân dân và lực lượng vũ trang cần
được biết tại sao lại chủ trương không cho tái bản và không cho tiếp tục
thực hiện các công trình nghiên cứu sáng tác về cuộc chiến chống bọn diệt
chủng Pôn – pốt, chống giặc bành trướng trên biên giới phía bắc và trên
biển Đông, tại sao lại không tổ chức tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh
trên các tuyến đầu bảo vệ Tổ Quốc ấy ? Những
người lãnh đạo không thể lẩn tránh mãi việc trả lời nhân dân và lực lượng
vũ trang về các việc hệ trọng này. Rõ ràng đây là bằng chứng về sự phản
bội đối với các chủ trương đúng đắn có tính nền móng của đại hội 6
“nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, lấy dân làm
gốc, công khai dân biết dân bàn…”, phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh : “Chế
độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào ? Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do
bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý.Đó là một quyền lợi mà
cũng là một nghĩa vụ của mọi người” ( Hồ Chí Minh toàn tập NXB CTQG, H, , t8, tr216 )
Tóm lại :
Rõ ràng Đảng không có dân
chủ.
Đất nước không có dân chủ.
Mục tiêu dân chủ của cuộc
cách mạng chưa đạt được.
Cách mạng dân tộc dân chủ
chưa hoàn thành.
Không
những thế, dưới danh nghĩa xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã diễn ra một quá
trình hủy hoại toàn diện nội lực dân tộc, hủy hoại các thành quả dân chủ
mà nhân dân đã đạt được từ đầu năm 1946 và bản thân Đảng mất dần tư cách
yêu nước vì dân. Nhân dân đã tự nguyện tạm gác một số quyền tự do cơ bản
mà mình từng được hưởng một thời gian ngắn sau Cách mạng tháng Tám 1945
để dồn sức cho 2 cuộc kháng chiến, nhưng sau khi đất nước đã có hòa bình
độc lập thống nhất, sự tự nguyện tạm gác các quyền ấy đã bị khéo léo trấn
lột dưới dạng sắp đặt một cuộc hiến dâng tự nguyện.
Rõ ràng nhiệm vụ bao trùm của toàn Đảng toàn
dân hiện nay phải là tạm gác mục tiêu xã hội chủ nghĩa để
tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ.
Đây là mệnh lệnh của cuộc sống, cô đúc trong tám chữ
TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN TRÊN HẾT,
Là
mệnh lệnh của lịch sử, của hồn thiêng sông núi tổ tiên ngàn đời, của hồn
thiêng lớp lớp anh hùng liệt sĩ chống ngoại xâm chống bành trướng vang
lên qua giai điệu hào hùng của nhạc sĩ thiên tài Văn Cao từ Cách mạng
Tháng Tám :
LẬP QUYỀN DÂN, TIẾN LÊN, VIỆT
NAM !
II
Hiện nay, trước hết cần làm mấy
việc cơ bản nhất và cũng cấp bách nhất :
1/- Trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân ( nhấn mạnh cho
thật rõ : quyền tư hữu vĩnh viễn chứ không phải quyền sử dụng có
thời hạn ) tiến tới phải chính thức Hiến định quyền tư hữu tài sản của
công dân (như Hiến pháp năm 1946), nhưng trước hết hãy bắt đầu bằng thực
hiện người cày có ruộng.
2/ -
Trả lại quyền tự do báo chí tự do xuất bản cho
công dân, sửa ngay luật báo chí và luật xuất bản, bổ sung điều
khoản công dân được quyền ra báo tư nhân, lập nhà xuất bản tư nhân, lập
tổ chức nghiên cứu khoa học tư nhân (gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội).
3/ -
Trả lại quyền tự do lập hội, tự do nghiệp đoàn
cho công dân.
4/ -
Trả lại quyền tự do ứng cử và bầu cử (gồm
cả quyền tự do không đi bầu) cho công dân và đảng viên.
Ai
làm những việc trên ?
Các
cấp ủy Đảng với 51% bị giặc nội xâm chiếm chỗ thì đương nhiên không chịu
làm (tuy cũng có số ít cấp ủy viên yêu nước vì dân muốn làm nhưng lực bất
tòng tâm), không những thế còn tìm mọi cách chống lại.
Như
vậy người làm không ai khác là toàn Đảng toàn dân. Thực chất việc làm này
là một cuộc đòi nợ và trả nợ. Với tư cách lãnh đạo, Đảng phải trả món nợ
quyền dân. Với tư cách là nạn nhân của chế độ cực quyền do chính mình
dựng nên, Đảng là người đòi món nợ quyền dân, cùng với nhân dân đòi, tổ
chức và lãnh đạo nhân dân đòi. Toàn Đảng phải bắt đầu từ từng đảng viên. Toàn
dân phải bắt đầu từ từng người dân. Từng đảng viên đòi. Từng người dân
đòi. Đòi hàng ngày. Đòi ngày này sang ngày khác. Tập hợp nhau lại mà đòi.
Tập hợp ở đâu ? Trước hết ở ngay trong các tổ
chức hiện hành. Phải nhớ rằng tổ chức Đảng và
các hội đoàn là thành quả cách mạng xây đắp bằng bao nhiêu xương máu,
không thể để bọn vua quan cách mạng biến thành bệ đỡ cho ngai ghế của
chúng. Đảng viên phải làm chủ Đảng. Công dân phải làm chủ các hội đoàn mà
mình đang tham gia (song song với việc đòi có luật tự do lập hội
và nhen nhóm, phát triển các phương thức tổ chức vô cùng phong phú của
sinh hoạt xã hội dân sự). Còn nguyên vẹn đó con người Việt Nam
bước ra từ Cách Mạng Tháng Tám “ rũ
bùn đứng dậy sáng lòa” (thơ Nguyễn Đình Thi), những con người đã chớm
biết thế nào là cuộc đời tự do “có hội nghị, phê bình,
chất vấn” ( thơ Hồng Nguyên). Phải làm
bừng dậy hồn dân tộc, nhân dân, cái hồn xã hội dân sự trong sinh hoạt
Đảng và các hội đoàn mà giặc nội xâm đang thao túng, phải biến các hoạt
động mà chúng chỉ muốn thực hiện bằng bàn tay sắp đặt theo kiểu trình
diễn hình thức với vai diễn là đảng viên và nhân dân làm bình phong làm
con rối phục vụ lợi ích đen tối của chúng, thành hoạt động có thực chất
phục vụ lợi ích của đất nước và bản thân mình.
Muốn đẩy lùi và loại trừ dần
sự thao túng của giặc nội xâm, Đảng phải tự đổi mới bản thân Đảng, đổi
mới về tư tưởng, đổi mới về tổ chức (nói đổi mới nhưng thực chất là kiên
quyết sửa chữa tận gốc những cái sai, thực hiện triệt để những điều
đúng).
Về
tư tưởng, chỉ cần gói gọn trong 8 chữ giản dị, dễ hiểu
TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN
TRÊN HẾT.
Từ
nền móng tư tưởng đó, tôi thấy cần xác định lại về tổ chức : Đảng là tập
hợp tinh hoa trí tuệ và nhân cách của mọi công dân Việt Nam yêu nước vì
dân, thuộc mọi giai cấp giai tầng tôn giáo dân tộc tự nguyện hiến dâng
đời mình làm người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu chiến đấu cho
nền hòa bình thống nhất độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt
Nam, cho tự do của mỗi con người Việt Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa
bình thống nhất độc lập dân chủ và giầu mạnh. Xác
định lại như thế Đảng mới tự gỡ mình thoát khỏi thảm trạng đối nghịch
giữa danh và thực bởi cái vòng kim cô của ý thức hệ giai cấp phản khoa
học mà thế lực nội xâm bấy lâu sử dụng như một công cụ nhằm thâu tóm mọi
quyền của đảng viên, của công dân vào tay một người, một nhóm.
Đảng
thực hiện sự lãnh đạo của mình bằng gì ?
1/ -
Bằng đường lối đúng,
2/ -
Bằng vận động giáo dục thuyết phục
3/ -
Bằng tấm gương tận tụy, hy sinh, chí công vô tư của đội ngũ cán bộ, đảng
viên.
Trong quá khứ, Đảng đã được nhân dân thừa nhận vai trò lãnh
đạo mà không cần một điều Hiến định nào như điều 4 hiện nay là nhờ vậy. Đó
là quá trình xuôi thuận của một lực lượng chính trị từ nhân dân mà ra, vì
nhân dân quên mình mà trở thành lực lượng lãnh đạo, trong đó yếu tố
thường xuyên gương mẫu của người chiến sĩ cách mạng, người cán bộ lãnh
đạo là quyết định. Không có yếu tố này thì các yếu tố khác dù hay ho mấy
cũng không được nhân dân tin theo. Nhưng từ đại
hội 4 (1976), đã xuất hiện một diễn trình ngược. Đường lối thì sai lầm,
mất yếu tố tiền phong gương mẫu về trí tuệ. Cán bộ Đảng thì trượt dài
trên con đường thoái hóa sa đọa, mất yếu tố gương mẫu về nhân cách. Không
thể vận động giáo dục thuyết phục được ai nữa, chỉ còn cách bưng bít ngăn
chặn thông tin, mệnh lệnh áp đặt, thậm chí dùng bạo quyền thay cho lẽ
phải để trấn áp đồng chí đồng bào yêu nước yêu tự do. Đảng trở thành một
hệ thống siêu quyền lực trùm lên hệ thống Nhà nước với bộ máy cồng kềnh
đông đặc quan chức, trụ sở đồ sộ, xe cộ nghênh ngang chi xài bằng tiền
thuế của dân, công việc trùng lặp chồng chéo, quyền càng to trách nhiệm
càng mù mờ, lẩn tránh đùn đẩy lẫn nhau, hàng ngàn hàng vạn sự bê bối
chồng chất mà không mấy trường hợp chỉ ra được cá nhân nào chịu trách
nhiệm.
Để giữ vững sự lãnh đạo đích thực của Đảng theo đúng 3 tiêu
chí nêu trên thì cần gì một bộ máy khổng lồ như thế với trụ sở phương
tiện tốn kém như thế ? Một trí tuệ lớn trong lều
rách hay nơi hầm tối giữa lòng dân cũng đủ đem đến cho dân cho nước một
sự lãnh đạo đúng đắn. Tôi không cực đoan máy móc yêu cầu cán bộ đảng thời
bình phải sống như thời chiến, nhưng đây là điều bắt buộc bởi nguyên tắc
không được nói một đằng làm một nẻo, đã tuyên bố vì nhân dân quên mình,
là người chiến sĩ tiền phong gương mẫu thì phải sống đúng như thế. Cấu
trúc 2 hệ thống quyền lực song trùng là một cấu trúc phản động phản dân
chủ du nhập từ mô hình Liên xô, phản lại chính chức năng lãnh đạo, phản
lại truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân, là cấu trúc tự cắt đứt cội
nguồn dân tộc, cội nguồn cách mạng, nó chỉ mở cửa cho những phần tử cơ
hội chui vào Đảng ngày càng đông để thăng quan phát tài, nhân danh cách
mạng để làm vua quan cách mạng, thực chất đây là một hệ thống phản cách mạng,
phản tiến hóa.
Một đòi hỏi rõ ràng bức thiết đã đặt ra :
Để giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, phải thực hiện ngay mấy biện
pháp sau đây :
1/ - Đảng tự nguyện giao lại toàn bộ
cơ sở vật chất phương tiện cho Nhà nước; toàn bộ cán bộ và nhân
viên thuộc các cấp ủy Đảng từ cơ sở tới trung ương tự nguyện tự túc để
hoạt động, những bộ phận chuyên nghiệp (rất gọn nhẹ) thì thuê trụ sở và
hưởng lương từ quỹ đảng phí hoặc do nhân dân tự nguyện công khai minh
bạch góp nuôi. Một đảng chính trị hoạt động theo phương thức này nhất
định sẽ được nhân dân thấy rõ phẩm chất vì nhân dân quên mình mà sẵn sàng
gửi gắm niềm tin, và đến lượt mình bản thân đảng lãnh đạo cũng hoàn toàn
có đủ tự tin để đón nhận sự ra đời hợp qui luật của các đảng đối sánh,
đối lập cùng chung mục tiêu (và động lực) Tổ Quốc trên hết quyền dân trên
hết như mình, thi đua nhau cạnh tranh nhau xem đảng nào có đường lối đúng
nhất, có nhiều cán bộ gương mẫu nhất để cho dân chọn.
2/ - Đảng trao quyền cho dân giúp
Đảng lựa chọn cán bộ bằng cách tổ chức bầu cử Quốc hội trước rồi mới tiến
hành đại hội Đảng, những đảng viên nào trúng cử vào Quốc hội mới được đề
cử ứng cử vào trung ương, đồng thời phải trả lại quyền công dân cho toàn
thể đảng viên được tự do ứng cử vào Quốc hội không cần thông qua tổ chức
Đảng. Cũng đồng thời kiến nghị với Quốc hội sửa ngay luật bầu cử, bỏ điều
khoản sàng lọc ứng cử viên qua hiệp thương ở Mặt trận Tổ Quốc vì điều
khoản này thủ tiêu quyền tự do ứng cử của công dân. Khi số đảng
viên được dân bầu chọn ( tất nhiên phải bằng lá
phiếu tự do tự chủ) chiếm quá bán trong Quốc Hội – và Quốc Hội phải
chuyên nghiệp 100% với thực chất là cơ quan quyền lực tối cao, với vị trí
độc lập của 3 quyền lập pháp , hành pháp, tư pháp, thì lúc ấy đảng lãnh
đạo trở thành đảng cầm quyền, đường lối của Đảng trở thành quốc sách. Người
đảng viên là đại biểu quốc hội phải đặt trách nhiệm đại biểu lên hàng
đầu, những ý kiến chỉ đạo của cấp ủy không phù hợp với tư duy độc lập của
người thay mặt dân ở cơ quan lập pháp thì có quyền không chấp hành. Trong
sinh hoạt Đảng và cơ quan dân cử, các ý kiến thiểu số phải được bảo lưu
bằng việc bình đẳng công bố và truyền bá rộng rãi, bởi vì bảo lưu trong
hộp sọ là vô nghĩa. Thực tế cho thấy các ý kiến thiểu số nếu đúng đắn
sáng suốt mà công bố kịp thời sẽ mau chóng trở thành ý kiến đa số giúp
Đảng sớm thấy sai lầm, kịp thời điều chỉnh, thay đổi đường lối.
Không thể để kéo dài mãi tình trạng toàn bộ
quyền lực của đất nước lại thâu tóm vào mười mấy ủy viên Bộ chính trị mà
không người nào đạt tiêu chuẩn tinh hoa về trí tuệ và nhân cách, trong khi vốn cán bộ của Đảng rất dồi dào, đại đa số đảng
viên là những người đã sống cuộc đời vì nhân dân quên mình, trong đó có
rất nhiều cán bộ tiêu biểu về trí tuệ và nhân cách hơn hẳn mười mấy người
đương nhiệm. Và vốn cán bộ của cả dân tộc thì lại càng dồi dào gấp bội. Việc hệ trọng hàng đầu của nước ta (
và của bất kỳ quốc gia nào) từ xưa đến nay và mãi mãi về sau là
làm sao đưa được những người năng lực tài giỏi nhất, nhân cách đáng tin
cậy nhất ra gánh vác việc dân việc nước chứ không nệ là đảng viên hay
không đảng viên, đã qua mấy khóa trung ương hay chưa.
2 biện pháp nêu trên khó làm hay dễ làm ?
Vừa khó vừa dễ.
Khó, khi toàn Đảng toàn dân thờ ơ, phó mặc mọi việc cho các
quan chức, hoặc thụ động ngóng chờ “vận nước”.Mà các quan chức thì đương
nhiên là không ưa gì hai biện pháp trên dù nếu công khai thảo luận thì họ
cũng khó bề bác bỏ.
Dễ, khi toàn Đảng toàn dân thoát ra khỏi tình trạng thờ ơ thụ
động (và manh động khi bị đụng chạm một số quyền lợi cụ thể), tự khôi
phục truyền thống tích cực chủ động năng động như trước kia với tấm gương
tiêu biểu là các đảng viên Kim Ngọc, Võ Văn kiệt.
Phải cùng nhau thống nhất rành mạch nhận thức : Khi nói đến sự
lãnh đạo của Đảng là nói đến toàn Đảng chứ không chỉ là cấp ủy Đảng. Khi cấp ủy đã bị 51% giặc nội xâm chiếm chỗ thì làm gì
còn sự lãnh đạo đúng nghĩa nữa, chỉ còn là mệnh lệnh áp đặt, là tình
trạng đầu lĩnh dùng cấp hàm bổng lộc để sai khiến thủ túc, còn thủ túc
dùng quà biếu siêu tình cảm nắm lấy yếu huyệt của đầu lĩnh để giữ ghế và
leo lên ghế cao hơn.
Một sự thật ai cũng thấy từ lâu :
Đại đa số đảng viên thì tốt, nhưng đa số cấp ủy viên lại càng ngày càng
tệ hại liên tục hết nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác. Nhiệm kỳ nào nhân sự
cũng được bí mật sắp đặt ở đâu đó bên trên từ bàn tay một người hoặc một
nhóm người rồi đại hội nào cũng “dân chủ đổi mới đoàn kết”, cũng “thành
công tốt đẹp” để bầu ra các cấp ủy
ngày càng tệ hơn.
Ai bầu ?
Ở cơ sở thì đảng viên tốt chiếm đa số tham gia bầu (các cơ sở
đảng trong cơ quan chưa hẳn được như thế). Nhưng
nếu thụ động bầu theo cái danh sách được sắp đặt sẵn từ bên trên, thì tất
đẻ ra một đoàn đại biểu đi dự đại hội phần lớn là quan chức.Cứ thế, tới
đại hội toàn quốc thì trở thành đại hội của các quan chức trong Đảng,
tính chất đại diện cho đa số đảng viên – những người vì nhân dân quên
mình, không còn nữa, cấp ủy được bầu ra trở thành cấp ủy quên mình trên
đầu lưỡi, lòng dạ thì dốc hết vào
việc tìm mọi cách khoét công quỹ, móc túi dân cướp đất dân bịt miệng dân.
Đã bao nhiêu đại hội như thế rồi.
Nay có để như thế nữa không ?
Nhiều cụ lão thành bảo nhau :
Đại hội 11 này chúng ta phải quyết làm phá sản thủ đoạn bè
phái sắp đặt nhân sự. Bao năm qua, ý thức tổ chức của ta, niềm tin ở cấp
trên của ta bị lợi dụng để phục vụ cho trò sắp đặt nhân sự. Nay thì đừng
hòng lợi dụng ta nữa. Ta sẽ gạch phăng những cái tên ta biết rõ là phần
tử xấu, cũng gạch phăng cả những cái tên chưa biết rõ là có tốt hay
không, gạch tuốt, gạch tuốt, những ai tốt thì hãy công khai tự nguyện làm
đảng viên tự túc hoạt động, giao lại trụ sở cho Nhà nước, không nhận
lương, tự động đi vận động quần chúng chống nội xâm chống bành trướng,
những ai như thế tự ứng cử thì sẽ không bị ta gạch tên, chúng ta bảo nhau
trong tất cả các chi bộ các đảng bộ, gạch tuốt, gạch tuốt những cái tên
bất lương, phải làm sao có một đại hội toàn quốc gồm phần lớn là các đại
biểu tiêu biểu về trí tuệ và lương tâm thì mới mong có được một Trung
ương mới, một Bộ chính trị mới xứng đáng.
Nghe được vậy, một cán bộ tổ chức còn trẻ và thật tâm muốn đổi
mới thưa lại :
-
Cháu đố các bác thay đổi được cái nếp bỏ phiếu theo sự sắp đặt ấy đấy. Nhiều
năm trước, người ta đã chủ trương khéo để các bác nghỉ sinh hoạt Đảng mà
vẫn giữ danh hiệu đảng viên, đến kỳ đại hội mời các bác về nhận huy hiệu,
nhận quà là chính rồi giơ tay biểu quyết mọi sự đã sắp sẵn, các bác đã
cao tuổi, cơ thể mệt mỏi, đầu óc lại thiếu thông tin, cái cánh tay giơ
lên, cái bàn tay cầm lá phiếu đã bị điều kiện hóa theo tâm lý đám đông
rồi, dễ gì mà thay đổi.
- Tình hình bấy lâu đúng là có như thế thật và không phải bây
giờ cháu nói ta mới biết.Trong phạm vi toàn Đảng thì bọn quên mình đầu
lưỡi là thiểu số. Chúng xảo quyệt dùng thủ đoạn sắp đặt để sao cho người
của chúng đều chiếm đa số ở các đại hội. Nhưng nay thì cái thủ đoạn ấy
không lừa ai được nữa đâu, bọn chúng không thể muốn tác oai tác quái thế
nào cũng được đâu. Khi đã nhận ra thủ đoạn của chúng rồi thì những người
cả đời vì nhân dân quên mình như chúng ta cùng con cháu ta, bà con bạn
hữu ta, những người thuộc phe vì nhân dân quên mình này chiếm tuyệt đại
đa số đấy nhé, chúng ta quyết dùng lá phiếu làm vũ khí để loại chúng ra. Chúng
ta chỉ cần bảo nhau ngắn gọn mấy câu “Chống mệt mỏi,
chống sắp đặt !”, “Nghị trường là mặt trận, lá
phiếu là vũ khí, cử tri là chiến sĩ !”, “Gạch tuốt ! Gạch tuốt bọn quên
mình đầu lưỡi!”, ngắn gọn mấy câu thế thôi, bảo nhau qua
báo chí, bảo nhau qua mạng thông tin toàn cầu, ai không có báo có mạng
thì truyền miệng, truyền hàng ngày, truyền hàng giờ, ở bất cứ đâu, trong
nhà, ngoài phố, trong lúc giải lao bên bờ ruộng, trong đám cưới đám giỗ
đám tang, đám họp họ, họp đồng hương, họp lớp cũ trường cũ, bảo nhau làm
một việc rất dễ làm, đảng viên nào cũng làm được, cử tri nào cũng làm
được, làm như một niềm vui, làm cho tăng tuổi thọ, đây là niềm vui lập
quyền dân bốn nghìn năm ta mới có, bắt đầu từ cái quyền rất bình thường :
“Gạch tuốt ! Gạch tuốt bọn
quên mình đầu lưỡi !”.
Đà Lạt 4g 48’ ngày
21.12.2009
BMQ
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát
triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|