|
DC&PT - Thời
Sự 2009
Diễn văn của nữ Thủ tướng Merkel
trước lưỡng viện Hoa kì tại thủ đô Wahington ngày 3.11.09
LTS: Nữ Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức,
TS Angela Merkel, vừa đọc một diễn văn quan trọng trước Lưỡng viện Quốc
hội Hoa kì ngày 3.11.2009. Đây cũng là dịp kỉ niệm 20 năm bức tường
Berlin sụp đổ và từ đó đi tới tái thống nhất Đức trong tự do và hòa bình.
Quốc hội Mĩ đã dành đặc ân này cho TS Merkel không chỉ vì bà là Thủ tướng
nước Đức, một cường quốc kinh tế của EU, mà còn tỏ lòng ngưỡng mộ một phụ
nữ xuất thân từ một nước Cộng sản, tức DDR cũ, nhưng đã rất đảm lược vượt
qua nhiều thử thách chỉ trong một thời gian tương đối ngắn trở thành một
phụ nữ lãnh đạo một nước dân chủ, tự do và phú cường ở Âu châu và một
đồng minh quan trọng của Hoa kì.
Dưới đây là bài
lược dịch của TS Âu Dương Thệ về diễn văn nói trên của nữ Thủ tướng Đức.
Thưa bà Chủ tịch
Thưa Phó Tổng thống
Thưa Quí vị Đại biểu
Tôi cám ơn tất cả Quí vị đã dành vinh dự lớn cho
tôi được nói chuyện với Quí vị ngày hôm nay, chỉ ít ngày trước dịp kỉ niệm
20 năm sụp đổ của bức tường Berlin.
Tôi là Thủ tướng Đức thứ hai được chia xẻ vinh dự
này. Konrad Adenauer [Thủ tướng đầu
tiên của Tây Đức, ghi chú của người dịch]* là người đầu tiên, vào năm 1957 ông đã
nói lần lượt ở hai Viện Quốc hội.
Cuộc đời giữa hai người chúng tôi có lẽ không thể
khác biệt nhau hơn nữa. Năm 1957 tôi mới chỉ là một đứa trẻ 3 tuổi. Tôi đã
sống với cha mẹ ở Brandenburg, một vùng thuộc DDR [tức Cộng hòa Dân chứ Đức theo chế độ Cộng sản, nay là Đông Đức],
một phần đất mất tự do ở Đức. Cha tôi hành nghề mục sư. Mẹ tôi đã học Anh
ngữ và tiếng Latein để trở thành giáo viên. Nhưng bà đã không được hành
nghề ở DDR trước đây.
Konrad Adenauer đã 81 tuổi vào năm 1957. Ông ấy đã
trải qua thời Hoàng đế ở Đức, Thế chiến Thứ nhất, Cộng hòa Weimarer [chế độ dân chủ đầu tiên ở Đức từ
1918-1933] và Thế chiến Thứ hai. Ông đã bị mất chức thị trưởng thành
phố Köln bởi chế độ Quốc xã. Khi chiến tranh chấm dứt ông đã trở thành
một trong số những nam nữ, những người đã khai sáng nước tự do, dân chủ
Cộng hòa Liên bang Đức.
Đối với Cộng hòa Liên bang Đức thì không có gì quí
bằng bản Hiến pháp của nó, đạo luật căn bản. Nó đã ra đời đúng 60 năm
trước đây. Điều 1 của Hiến pháp này ghi rõ: „Nhân phẩm của con người không được xâm phạm“. Một câu thật
ngắn và đơn giản - „Nhân phẩm của
con người không được xâm phạm“ - đã là câu trả lời về những thảm họa
của Thế chiến Thứ 2. Nó đã giết hại 6 triệu người Do thái trong các lò
thiêu, gây ra hận thù, đổ vỡ và tiêu hủy mà Đức quốc đã gây ra cho Âu châu
và thế giới.
Chỉ còn vài ngày nữa chúng tôi kỉ niệm ngày 9.11. Vào
ngày 9.11. 1989 bức tường Berlin đã sụp đổ, nhưng ngày 9.11. 1938, cũng
ghi sâu trong lịch sử Đức và Âu châu. Chính vào ngày này Đức quốc xã đã phá hủy và đốt cháy các nhà thờ [Do thái] và giết hại rất nhiều
người. Đây là khởi đầu mở đường cho thảm họa gẫy đổ văn minh về sau này.
Hôm nay tôi không thể đứng trước Quí vị ở đây, nếu không tưởng nhớ tới
các nạn nhân trong ngày này và những thảm họa.
Có một vị khách đang cùng với chúng ta ở đây. Chính
ông đã phải trải qua những kinh hãi ở nước Đức dưới thời Quốc xã và mới
đây tôi đã hân hạnh được quen biết ông: Giáo sư Fritz Stern. Ông sinh năm 1926 tại một phần đất thời
đó thuộc Đức, nay là Breslau của Ba lan và năm 1938 ông đã kịp thời cùng
với gia đình chạy sang Mĩ trốn thoát bọn Quốc xã. Trong cuốn hồi kí của
ông xuất bản năm 2006 dưới tựa đề „5
nước Đức tôi đã biết“ Fritz Stern đã tường thuật khi đặt chân tới hải
cảng New York vào năm 1938, đây cũng chính là hải cảng của tự do và an
toàn.
Thưa Quí vị, thật là một kì diệu, lịch sử muốn
rằng, chúng tôi - một thiếu niên khi ấy mới 12 tuổi bị xua đuổi khỏi Đức
và tôi, nữ Thủ tướng nước Đức vừa tái thống nhất và đã từng lớn lên ở DDR
- hôm nay cùng hiện diện trước nơi tôn nghiêm này. Điều này làm tôi rất vui
sướng và cám ơn nhiều.
Trước đây 20 năm trước khi bức tường [Berlin] sụp đổ tôi không thể nào
mơ tưởng được. Vì ngày đó thật là ngoài sức tưởng tượng của tôi có được
một lần sang thăm Hoa kì, còn dám nói chi là một ngày nào đó được đứng ở
đây.
Một nước với muôn vàn cơ hội - nhưng đối với tôi
trong nhiều năm của cuộc đời tôi nó đã trở thành vô vọng. Bức tường, hàng
rào kẽm gai, lệnh bắn - những điều này đã ngăn cản bước chân của tôi tới
thế giới tự do. Vì thế tôi chỉ còn biết hình ảnh nước Mĩ qua các phim,
sách một phần do những người thân đã mang lậu từ phương Tây.
Tôi đã nhìn thấy và đọc gì ?
Tôi đã hứng thú về những điều gì ?
Tôi đã hứng khởi về một giấc mơ Hoa kì - cơ hội cho
mọi người đạt tới thành công qua những nỗ lực của chính mình.
Tôi cũng như nhiều thiếu nữ khác ao ước những chiếc
quần Jeans có tên tốt, nó không có ở DDR, nhưng đã được bà cô của tôi từ
phía Tây gởi cho đều đặn.
Tôi đã hứng thú về một nước Mĩ rộng lớn, nó hít thở
tinh thần tự do và độc lập. Ngay năm 1990 nhà tôi và tôi lần đầu tiên
trong đời đã bay sang Mĩ tại California. Chúng tôi không bao giờ quên lần
đầu tiên nhìn thấy Thái bình dương. Nó thật là hùng vĩ.
Đối với tôi cho tới 1989 thì Mĩ hầu như không bao
giờ đạt tới được. Nhưng ngày 9.11.1989 bức tường Berlin đã sụp đổ. Biên
giới từng chia cắt một dân tộc thành hai thế giới từ nhiều thập niên đã
không còn nữa.
Chính vì thế ngày hôm nay trước hết phải là lúc để
cám ơn.
Tôi cám ơn các phi công Mĩ và đồng minh, những
người vào năm 1948 đã đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của thị trưởng
Berlin ông Ernst Reuter; khi ông kêu gọi:“Các dân tộc trên thế giới,…hãy nhìn vào thành phố này…“. Ròng
rã nhiều tháng các phi công này đã lập cầu không vận chuyên chở lương
thực, nên đã cứu Berlin thoát khỏi nạn đói. Nhiều binh lính này đã gặp
nguy hiểm và hàng chục người đã bị thiệt mạng. Chúng tôi vẫn tưởng nhớ chân thành tới
họ.
Tôi cám ơn 16 triệu lính Mĩ đã đồn trú tại Đức
trong nhiều thập niên. Nếu không có sự đóng góp của họ, trong vai trò
binh sĩ, nhà ngoại giao hay là người giúp đỡ thì không thể nào vượt qua
sự chia cắt ở Âu châu. Hôm nay cũng như trong tương lai chúng tôi vẫn vui
mừng về các binh sĩ Mĩ ở Đức. Họ là những đại sứ cho đất nước của Quí vị
tại đất nước chúng tôi, điều này cũng như nhiều người Mĩ gốc Đức cũng là
những đại sứ của chúng tôi trên quê hương Quí vị.
Tôi nhớ tới [Tổng
thống] John F. Kennedy, trái tim nhiều người đã giành cho ông trong
cuộc viếng thăm của ông vào năm 1961 sau khi xây bức tường Berlin. Khi ấy
ông đã hô lớn với những người dân Berlin đang tuyệt vọng: “Tôi là một người dân Berlin“.
[Tổng thống]
Ronald Reagan đã viễn kiến trước nhiều người về những dấu hiệu của thời
đại. Khi đứng trước cổng Brandenburg năm 1987 ông đã kêu gọi: „Ông Gorbatschow [Chủ tịch nước Liên
xô cũ và nguyên Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên xô] hãy mở cái cổng này… Ông
Gorbatschow hãy dẹp bức tường này!“.
Những lời kêu gọi này sẽ không bao giờ quên!
Tôi cám ơn [Tổng
thống] George Bush [cha của
Tổng thống George W. Bush], khi ấy ông đã tin tưởng nước Đức và Thủ
tướng Helmut Kohl. Ngay từ tháng 5.1989 ông đã đưa ra đề nghị vô giá với
nhân dân Đức là “cùng đồng hành
trong lãnh đạo.” Thật là một đề nghị cao quí, 40 năm sau khi chấm dứt
Thế chiến Thứ 2. Mới ngày Thứ bẩy vừa qua chúng tôi đã gặp nhau ở Berlin
cùng với Michail Gorbatschow. Ông cũng nhận được sự cám ơn của chúng tôi.
Thưa Quí vị, cho phép tôi được nói tóm tắt việc này
trong một câu: Tôi biết, người Đức chúng tôi biết, chúng tôi cám ơn vô
hạn Quí vị, những người bạn Mĩ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ
và cả cá nhân tôi sẽ không bao giờ quên Quí vị!
Khắp nơi ở Âu châu lòng mong đợi chung về tự do đã
biến thành lực lượng không thể tưởng tượng được: Trong Nghiệp đoàn
Solidarnosc ở Ba lan, những người đòi cải tổ qui tụ quanh Vaclav Havel [Thổng thống đầu tiên sau khi Tiệp
khắc thoát khỏi chế độ Cộng sản] ở Tiệp khắc, việc mở cửa bức màn sắt
lần đầu tiên ở Hung và những cuộc biểu tình vào ngày Thứ hai mỗi tuần ở
DDR cũ.
Vì nơi nào trước đây có những bức tường đen tối thì
nơi đó cửa được mở bất thình lình. Chúng tôi xuống đường, vào các thánh
đường, vượt qua các biên giới. Mỗi người có được cơ hội bắt đầu xây dựng
một cái gì mới, cùng nhau kiến tạo và dám mạnh dạn lên đường.
Chính tôi cũng đã lên đường. Tôi đã bỏ lại công
việc là nhà vật lí tại Viện Khoa học ở Đông Berlin và tham gia hoạt động
chính trị. Vì tôi đã có thể tổ chức. Vì tôi đã có cảm tưởng: Bây giờ sự
việc có thể thay đổi được, bây giờ là lúc mình có thể làm một cái gì!
Thưa Quí vị, 20 năm từ khi
phần thưởng vĩ đại của tự do đã đi qua. Tuy nhiên, cho tới bây giờ chưa
có gì làm tôi sung sướng, chưa có gì làm tôi khích lệ, chưa có gì làm tôi
hài lòng hơn là sức mạnh của tự do.
Ai đã từng trong đời bất ngờ trải qua một việc tốt
thì người đó tin rằng có thể còn làm được nhiều việc khác nữa. Hay có thể
dùng câu của [Tổng thống] Bill
Clinton nói năm 1994 ở Berlin về việc này:”Không có gì cản trở được chúng ta. Mọi chuyện đều có thể xẩy
ra.”
Vâng, mọi chuyện đều có thể xẩy ra - một phụ nữ như
tôi hôm nay có thể đứng cạnh Quí vị ở đây, một người đàn ông như Arnold Vaatz
trước đây dưới thời DDR từng là người tranh đấu dân quyền ở Dresden [một thành phố lớn ở DDR] và vì
vậy đã có một thời kì phải ngồi tù, nay đang là một dân biểu của Quốc hội
Liên bang Đức trong phái đoàn của tôi cũng đang ở đây.
Mọi chuyện đều có thể xẩy ra, cả trong thế kỉ của
chúng ta, trong Thế kỉ 21, trong kỉ nguyên toàn cầu hóa. Chúng ta biết
rằng, ở Đức chúng tôi cũng như ở Hoa kì của quí vị, toàn cầu hóa đang làm
nhiều người lo ngại. Chúng ta không đơn giản bỏ qua điều này. Chúng ta
nhìn nhận những khó khăn. Nhưng bổn phận của chúng ta là thuyết phục mọi
người hiểu rằng, toàn cầu hóa là một cơ hội lớn của thế giới, cho từng
lục địa, vì toàn cầu hóa thúc đẩy mọi nơi phải hành động chung với nhau.
Như thế phải chăng giải pháp thay thế cho toàn cầu
hóa là đóng cửa. Nhưng đấy không phải là giải pháp đúng. Nó sẽ dẫn tới
đói nghèo, vì nó đưa tới cô lập. Tư duy trong liên kết, tư duy trong hợp
tác - nó dẫn tới một tương lai tốt.
Thưa Quí vị, Hoa kì và Âu châu không phải lúc nào
cũng có tư tưởng đồng nhất. Có khi bên này nghĩ là bên kia quá lưỡng lự,
quá lo sợ và ngược lại, bên kia lại nghĩ là bên này bướng bỉnh và quá
thôi thúc. Mặc dầu vậy, nhưng tôi vẫn tin tưởng sâu sắc rằng: Một bạn
đồng hành tốt hơn Mĩ không thể có cho Âu châu, đối với Hoa kì cũng không
thể có một bạn đồng hành tốt hơn là Âu châu.
Vì rằng, những gì dẫn dắt và ràng buộc giữa người Âu
châu và Hoa kì với nhau không chỉ là có chung một lịch sử. Những gì dẫn
đắt và ràng buộc giữa người Âu châu và Hoa kì với nhau không chỉ là vì
cùng quyền lợi và cùng những thách đố, như thường có ở nhiều khu vực trên
thế giới. Nếu chỉ những việc đó riêng thôi thì không đủ để xây dựng và gánh
vác lâu dài cho mối đồng hành đặc biệt giữa Âu chậu và Hoa kì. Phải có gì
sâu xa hơn.
Những gì dẫn dắt và ràng buộc giữa người Âu châu và
Hoa kì chính là có cùng căn bản giá trị giống nhau. Đó là biểu tượng chung về con người và
nhân phẩm vô giá. Đó là sự hiểu biết giống nhau về tự do trong trách
nhiệm. Chúng ta đã bênh vực những giá trị này trong tinh thần thân hữu
liên Đại tây dương rất đặc biệt và trong giá trị chung của NATO [Liên phòng Bắc Đại tây dương]. Từ
đó đã làm cho “cùng đồng hành trong
lãnh đạo” được thực hiện, thưa Quí vị. Chính căn bản giá trị này đã
chấm dứt được cuộc chiến tranh lạnh. Chính căn bản giá trị này có thể
giúp chúng ta vượt qua những thử thách của thời đại hiện nay và chúng ta
phải thành công!
Nước Đức đã thống nhất, Âu châu đã thống nhất. Những
việc này chúng ta đã hoàn thành. Ngày nay thế hệ chính trị của chúng ta
phải chứng tỏ rằng, chúng ta phải thành công đối với những thách đố của
Thế kỉ 21 và có thể phá vỡ những bức tường ngày hôm nay hiểu theo một
nghĩa bóng.
Đó là những điều gì? Một là kiến tạo hòa bình và an
ninh. Hai là đạt tới hạnh phúc và công bằng và ba là bảo vệ trái đất của
chúng ta. Trong các vấn đề này cả Mĩ lẫn Âu châu lại bị thôi thúc đặc
biệt.
Cả sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt cũng vẫn còn
vấn đề là phá vỡ những bức tường liên quan tới những quan điểm về cuộc
sống, như những bức tường trong đầu mỗi người. Những bức tường này đang
ngăn cản chúng ta, hoặc gây khó khăn để chúng ta hiểu nhau trên thế giới.
Muốn vậy thì tinh thần khoan dung rất quan trọng. Đối với chúng ta thì phương
cách sống của chúng ta là điều quan trọng nhất. Nhưng nó không phải là
phương cách sống cho tất cả mọi người. Có nhiều giải pháp khác nhau để
làm cho một cuộc sống chung tốt đẹp. Khoan dung là sự biểu lộ lòng kính
trọng lịch sử, truyền thống, tôn giáo và nguồn gốc của những người khác.
Nhưng đừng có ai nhầm lẫn: Khoan dung không có
nghĩa là thế nào cũng được. Không khoan dung với những ai không tôn trọng
và chà đạp các quyền vô giá của con người. Không khoan dung với những ai,
nếu võ khí giết người hàng loạt thí dụ như rơi vào tay Iran có thể đe dọa
an ninh chúng ta. Iran phải biết điều này. Iran biết các đề nghị của
chúng ta. Nhưng Iran cũng biết gianh giới: Một trái bom nguyên tử không
được phép có trong tay của Tổng thống Iran, người từng phủ nhận Holocaut,
đe dạo Do thái và không nhìn nhận quyền tồn tại [của Do thái].
Đối với tôi, nền an ninh của Do thái không bao giờ
có thể thương lượng được. Chẳng những thế, không chỉ riêng Do thái bị đe
dọa, mà là toàn thể thế giới tự do. Ai đe dọa Do thái cũng là đe dọa
chúng ta. Vì vậy, thế giới tự do chống lại sự đe dọa này, nếu cần thì
trừng phạt kinh tế nghiêm khắc. Thưa Quí vị, chính vì thế nước Đức chúng
tôi ủng hộ mạnh mẽ tiến trình hòa bình ở Trung-Đông để thực hiện giải
pháp hai quốc gia: một nước Do thái và một nước Palestin.
Chúng tôi cũng chống lại những đe dọa của khủng bố
quốc tế. Chúng ta biết rằng, không có một nước nào - dù mạnh tới đâu - có
thể đương đầu một mình. Chúng ta cần các đối tác. Chỉ trong sự hợp tác với
các đối tác thì chúng ta mới mạnh.
Vì sau những cuộc khủng bố ngày 11.9 [2001] chúng tôi đã chia xẻ với
quan điểm của Tổng thống George W. Bush khi ấy là, từ nay trở đi an ninh
của thế giới không được phép bị đe dọa từ A phú hãn, cho nên từ năm 2002
Đức đã có một đoàn quân lớn thứ ba đóng tại đó. Chúng tôi muốn thực hiện
thành công giải pháp được gọi là an ninh liên kết. Nghĩa là: Sự tham gia
cả dân sự lẫn quân sự liên đới mật thiết với nhau.
Rất là rõ ràng: Sự dấn thân của nhiều nước ở A phú
hãn là rất khó nhọc. Nó đòi hỏi chúng ta rất nhiều. Nó phải tiến tới một
giai đoạn mới khi chính phủ mới ở A phú hãn nhậm chức. Mục tiêu phải là
phát triển một chiến lược chuyển giao trách nhiệm. Chúng ta muốn triển
khai việc này vào đầu năm tới tại Hội nghị của Liên hiệp quốc. Chúng ta
sẽ thành công, nếu chúng ta cùng nhau đi từng bước tiếp tục trong liên
minh như hiện nay. Đức tự ý thức trách nhiệm này.
Không có gì nghi ngờ: NATO đã và tiếp tục là cột
trụ cho an ninh chung của chúng ta. Kế hoạch an ninh của nó được tiếp tục
phát triển và thích ứng với những thử thách mới. Nền tảng và hướng đi của
nó phục vụ hòa bình và tự do hoàn toàn không thay đổi.
Những người Âu châu chúng tôi
- tôi tin tưởng như thế - có thể đóng góp cho việc này nhiều hơn nữa
trong tương lai. Vì người Âu châu
chúng tôi trong tuần này sẽ hoàn thành cho Liên minh Âu châu một hiệp ước
căn bản mới. Chữ kí cuối cùng cho việc này đã được kí. Nhờ thế Liên minh
Âu châu sẽ mạnh hơn và hành động hiệu quả hơn và như vậy Hoa kì sẽ có một
người đồng hành mạnh hơn và tin cậy hơn.
Trên căn bản này chúng ta sẽ thiết lập sự hợp tác
chặt chẽ với các đối tác khác, trước hết với Nga, Trung quốc và Ấn. Thưa
Quí vị, vì ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới tự do hơn và
ràng buộc với nhau hơn trước đây. Sự sụp đổ của bức tường Berlin, cuộc
cách mạng kĩ thuật trong thông tin và truyền thông, sự vươn lên của Trung
quốc, Ấn và nhiều nước khác trở thành các nền kinh tế năng động - tất cả
những việc này đang biến đổi thế giới trong Thế kỉ 21 thành một thế giới
khác so với Thế kỉ 20. Đây là một điều tốt. Vì tự do là qui luật của cuộc
sống trong kinh tế và xã hội chúng ta. Chỉ có trong tự do con người mới
có sáng tạo.
Nhưng một điều cũng rõ rệt: Tự do này không đứng
riêng rẽ. Đây là một tự do trong
và hướng tới trách nhiệm. Cho nên cần phải có trật tự. Việc gần như gẫy
đổ của thị trường tài chánh quốc tế đã cho thấy, điều gì sẽ xẩy ra nếu
không có một trật tự này.
Nếu thế giới đã học một bài học từ cuộc khủng hoảng
tài chánh của năm ngoái thì không thể bỏ qua được nhận thức là, một nền
kinh tế toàn cầu hóa cần một khuôn khổ trật tự toàn cầu. Không có một
ràng buộc trên bình diện thế giới dựa trên minh bạch và kiểm soát thì
không thể bồi đắp được tự do, khi ấy sẽ dẫn tới lợi dụng tự do và từ đó
đưa tới bất ổn định. Đó như một bức tường thứ hai, nó phải sụp đổ - một
bức tường đang cản trở một trật tự kinh tế toàn cầu thực sự, một bức
tường của các tư duy thiển cận khu vực và dân tộc hẹp hòi.
Chìa khóa trong sự hợp tác giữa các nước công
nghiệp và các nước đang vươn lên nằm ở trong nhóm G 20 [20 nước công nghiệp và đang vươn lên
tiêu biểu trên thế giới và gần đây đã có các Hội nghị cấp cao để giải
quyết cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu]. Cũng tại đây sự
hợp tác giữa Mĩ và Âu châu là một trụ cột quyết định. Đây là một sự hợp
tác trong đó không loại trừ ai, nhưng nó kết hợp cả những nước khác.
Nhóm G 20 đã cho thấy, nó có khả năng hành động. Chúng
ta phải chống lại các áp lực đã đưa nhiều nước trên thế giới sát bên bờ
vực thẳm. Điều này không có gì khác, đấy chính là phải được thúc đẩy tiếp
tục đường lối kinh tế quốc tế mạnh hơn nữa. Vì cuộc khủng hoảng đã cho
thấy những suy nghĩ rất thiển cận. Hàng triệu người trên thế giới qua đó
sẽ thất nghiệp và nghèo đói sẽ đe dọa. Để đạt tới hạnh phúc và công bằng,
chúng ta phải làm tất cả để tránh một cuộc khủng hoảng tương tự không thể
diễn ra, thưa Quí vị.
Điều này còn có nghĩa là, chống các chủ trương bảo
hộ. Vì thế các cuộc đàm phán - Doha trong khuôn khổ của Tổ chức Thương
mại Quốc tế [WTO] rất quan
trọng. Một sự thành công của vòng đàm phán-Doha giữa lúc đang có cuộc
khủng hoảng sẽ là một tín hiệu rất tốt cho việc thông thoáng kinh tế thế
giới.
Tương tự vậy, Hội đồng kinh tế liên Đại tây dương
cũng có một vai trò quan trọng. Chúng ta có thể ngăn cản các cuộc chạy
đua bảo hộ và có thể đưa ra những biện pháp nhằm giảm các cản trở mậu
dịch giữa Âu châu và Mĩ. Tôi yêu cầu Quí vị: Quí vị hãy để chúng ta cùng
đấu tranh cho một trật tự kinh tế thế giới, việc này nằm trong lợi ích
của Âu châu và Hoa kì!
Thưa Quí vị, những thách đố toàn cầu chỉ có thể
vượt qua được trong sự hợp tác quốc tế toàn diện, nó đang xuất hiện như
một thử thách thứ ba của Thế kỉ 21. Trong đó có thể hình dung như một bức
tường giữa hiện tại và tương lai. Bức tường này đang ngăn cản tầm nhìn về
những nhu cầu của các thế hệ tiếp theo. Nó cản trở những sự bảo vệ rất cần
thiết cho nền tảng đời sống tự nhiên và khí hậu của chúng ta.
Những
sự tiêu phí này sẽ dẫn tương lai chúng ta về đâu, điều này chúng ta có
thể thấy được ngay lúc này: Ở khu Arktis [Bắc cực] các băng đá đang tan, ở Phi châu con người đang
phải chạy trốn vì môi trường của họ bị tàn phá, mực nước biển đang dâng cao
ở khắp nơi trên thế giới. Tôi rất vui mừng là Tổng thống Obama và Quí vị
đã đề cao việc bảo vệ khí hậu trong các hoạt động của Quí vị. Tất cả
chúng ta đều biết: Chúng ta không còn nhiều thời gian. Chúng ta cần đạt
tới thống nhất trong Hội nghị Khí hậu vào tháng 12 ở Kopenhagen [thủ đô Đa mạch]. Chúng ta cần
thống nhất trong mục tiêu: Sự hâm nóng toàn cầu không được phép vượt quá
2° C.
Trong
đó chúng ta cần sự sẵn sàng của các nước thực hiện nghiêm chỉnh các thỏa
thuận quốc tế. Trong việc bảo vệ khí hậu, chúng ta không thể làm khác các
mục tiêu khoa học đã cho biết. Khi ấy không chỉ vô trách nhiệm về môi
trường. Nó còn là thiển cận trong kĩ thuật. Vì những phát triển
của kĩ thuật mới trong lãnh vực nhiên liệu tạo ra những cơ hội lớn cho
tăng trưởng và những chỗ làm tương lai.
Không
có gì phải nghi ngờ: Trong tháng 12 thế giới đang chăm chú vào chúng ta,
vào Âu châu và Hoa kì. Đây là một sự thật: Nếu không có sự tham gia của
Trung quốc và Ấn thì công việc sẽ không chạy. Nhưng tôi tin rằng: Nếu
chúng ta ở Âu châu và Hoa kì sẵn sàng đảm nhận nghiêm túc các thỏa thuận,
thì chúng ta sẽ thuyết phục được Trung quốc và Ấn. Khi đó ở Kopenhagen
chúng ta có thể vượt qua bức tường đang tồn tại giữa hiện tại và tương
lai - trong lợi ích con cháu của chúng ta và trong lợi ích của một cuộc
phát triển vững vàng trên toàn cầu.
Thưa
Quí vị, tôi tin rằng: Như chúng ta trong thế kỉ 20 đã từng có sức mạnh
làm đổ bức tường từ hàng rào kẽm gai và bê-tông, thì ngày nay chúng ta
cũng có sức mạnh vượt qua được những bức tường của Thế kỉ 21 - Các bức
tường trong các đầu của chúng ta, các bức tường trong tính toán quyền lợi
riêng thiển cận, các bức tường giữa hiện tại và tương lai!
Thưa
Quí vị, niềm tin của tôi bắt nguồn từ một âm thanh đặc biệt - âm thanh
của cái Chuông Tự do trong tòa thị chính ở Schöneberg của Berlin. Ở đó từ
năm 1950 treo một cái chuông phỏng theo Chuông Tự do của Mĩ. Nó do công
dân Hoa kì tặng và nó là dấu hiệu của lời hứa tự do, nó đã trở thành sự
thực. Ngày 3.10.1990 Chuông Tự do đã vang lên
khi nước Đức tái thống nhất. Ngày 13.9.2001 nó lại vang lên một lần nữa,
chỉ hai ngày sau 11.9 - chính là lúc nỗi đau buồn lớn nhất của dân tộc
Hoa kì!
Chuông
Tự do ở Berlin cũng giống Chuông Tự do ở
Philadelphia,
một biểu tượng nhắc nhở chúng ta là, tự do không tới tự nó. Nó phải được
đấu tranh và phải được bảo vệ hàng ngày trong cuộc sống của chúng
ta. Trong cố gắng này, Đức và Âu
châu trong tương lai vẫn là những bạn đồng hành mạnh và đáng tin cậy của
Hoa kì. Tôi bảo đảm với Quí vị như vậy!
Chân
thành cám ơn Quí vị.
* Các phần trong
[…] là ghi chú của người dịch.
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát
triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|