|
DC&PT - Thời
Sự 2009
Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận và
những câu hỏi còn bỏ ngỏ
Phạm Duy Hiển
Không thể xem nhà máy
ĐHN như một món hàng thông thường có thể mua sắm dễ dàng, ai cần thì sắm,
cần bao nhiêu sắm bấy nhiêu, mà quên rằng đây là một công nghệ rất phức tạp,
quy mô đồ sộ, lại chứa đựng không ít rủi ro, nhạy cảm, vốn gây chia rẽ thế
giới dai dẳng trong nhiều thập kỷ qua.
LTS: Tại kỳ họp QH lần này, dự án điện hạt nhân Ninh
Thuận sẽ được đặt lên bàn nghị sự. Dự án được xem có ý nghĩa chiến lược
trong cân bằng năng lượng phục vụ phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Và đây cũng là một dự án không dễ nghiên cứu đối với các ĐBQH. Vì sao phải
xây dựng nhà máy điện hạt nhân vào thời điểm này? Nếu xây dựng thì những
yếu tố cần và đủ là gì? Phải bảo đảm những yêu cầu gì về nguồn vốn đầu
tư, về công nghệ, về độ an toàn và nhiều vấn đề phát sinh khác... Bài viết
thể hiện góc nhìn riêng của GS Phạm Duy Hiển phần nào sẽ giúp độc giả giải
đáp những câu hỏi này.

Nhà
máy điện hạt nhân (Ảnh minh họa: cdndalat.edu.vn
Điện hạt nhân trên bàn nghị
sự
Báo cáo đầu tư (BCĐT) Dự án
điện hạt nhân (ĐHN) Ninh Thuận đã được Chính Phủ thông qua
và trình ra Quốc Hội xem xét trong kỳ họp cuối năm 2009, theo đó hai
nhà máy ĐHN với bốn lò phản ứng công suất 4x1000 MW sẽ xuất hiện vào năm
2020 - 2022. Cũng theo BCĐT, bốn lò nữa sẽ tiếp tục đưa vào vận hành từ
năm 2023 đến 2025. Một tốc độ khởi động
ĐHN ồ ạt như thế chưa hề có tiền lệ trên thế giới. Với 8000 MW ĐHN vào 2025, Việt Nam sẽ đặt chân vào
câu lạc bộ 15 nước hàng đầu thế giới về ĐHN. Để thuyết phục Chính phủ và
Quốc hội, BCĐT đưa ra mấy nhận định cơ bản sau đây:
·
Nước ta rất
thiếu điện, dự báo nhu cầu điện năng vào năm 2020
là 380 tỷ kWh, gấp bốn lần năm 2010, nhưng than, dầu, thủy điện
đến lúc này đều cạn kiệt,
·
ĐHN bảo đảm an
ninh năng lượng cho đất nước,
·
ĐHN rất an
toàn,
·
Giá thành ĐHN
chấp nhận được, tổng vốn đầu tư cho bốn tổ máy đầu tiên khoảng 11 tỷ USD.
·
Kế hoạch hoàn
toàn khả thi.
BCĐT đi đến những nhận định
trên qua thông tin từ rất nhiều nước trên thế giới, trên mạng và qua những
chuyến tham quan được các hãng chế tạo nhà máy ĐHN nước ngoài bố trí. Nhưng vì nguồn thông tin phiến diện, được chọn lọc có
chủ đích, không được xử lý từ góc độ khoa học, nên những nhận định trên
đây đều không ổn.
Không thể xem nhà
máy ĐHN như một món hàng thông thường có thể mua sắm dễ dàng,
ai cần thì sắm, cần bao nhiêu sắm bấy nhiêu, mà quên rằng đây
là một công nghệ rất phức tạp, quy mô đồ sộ, lại chứa đựng
không ít rủi ro, nhạy cảm, vốn gây chia rẽ thế giới dai dẳng trong nhiều
thập kỷ qua. Cũng phải đạt đến một trình độ KH-CN nhất định mới chinh phục
được nó. Cho nên cho đến nay mới chỉ 31
nước có nhà máy ĐHN.
Chúng ta cần phải làm ĐHN, và
cọc mốc 2020 đưa ĐHN lên lưới là một chủ trương cần ra sức phấn đấu thực
hiện. Ở cọc mốc đó có mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa mà đất nước
đang hướng tới. Nhưng tám lò phản ứng cỡ
lớn vào năm 2025 không phải là biểu hiện của một nước Việt Nam công nghiệp
hóa - hiện đại hóa nếu chúng ta chỉ sở hữu mà không làm chủ
chúng.
Câu hỏi quan trọng giờ đây là
làm ĐHN với tư thế nào, theo con đường nào? Muốn trả lời câu hỏi này, thiết
nghĩ nhà nước cần phải có đầy đủ thông tin khách quan và khoa học. Tránh
né phản biện đa chiều để những tiếng vỗ tay lấn át sẽ tạo ra không khí chủ
quan, coi thường tri thức khoa học-công nghệ, coi thường pháp luật, quy
chuẩn kỹ thuật, rất tai hại.
Những sự cố ĐHN lớn xảy ra
trên thế giới đều do con người và quản lý gây ra, nhân tố kỹ thuật chỉ
đóng góp một phần. Lắng nghe ý kiến phản biện không phải để tháo lui, mà
để ra các quyết sách đúng đắn cho đất nước, tạo ra đủ hành trang để bước
lên quỹ đạo ĐHN.
Thiếu điện hay lãng
phí điện
Thiếu điện nghiêm trọng là lý
do tường minh được nêu ra để phát triển ồ ạt ĐHN. BCĐT dự báo nhu cầu điện
năng vào năm 2020 là 380 tỷ kWh, gấp bốn lần năm 2010. Muốn thế, từ nay đến
đó phải bảo đảm tăng trưởng điện năng trung bình khoảng 17%/năm, vượt quá
kỷ lục 15%/năm cũng chính do ta nắm giữ (xem cột 2 bảng 1). Hậu quả là chúng ta lãng phí điện vào loại hàng đầu trên
thế giới. Năm 2005 tiêu thụ 01 kWh ta chỉ
làm ra 0,89 USD, trong khi Inđônêxia và Philippin làm ra 2 USD, một số nước
khác còn nhiều hơn (xem cột 3, bảng 1).
Bảng
1 Sử dụng điện ở một số nước châu Á
căn cứ trên thống kê của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) và UNDP
|
|
Tốc độ tăng điện
năng
2000-2006, %/năm
|
Hiệu quả sử dụng
USD/kWh, 2005
|
|
Nhật Bản
|
0.8
|
4,6
|
|
Đài Loan
|
3,9
|
|
|
Sin ga po
|
4,4
|
3,4
|
|
Phi lip pin
|
4.6
|
2,1
|
|
Ấn Độ
|
5,7
|
1,7
|
|
Inđô nê xia
|
6,3
|
2,7
|
|
Ma lai xia
|
7,1
|
1,6
|
|
Thái Lan
|
7,2
|
1,5
|
|
Hàn Quốc
|
7,7
|
2,2
|
|
Trung Quốc
|
13,7
|
1
|
|
Việt Nam
|
14,4
|
1,15
|
Những thông tin trên bảng 1
cho thấy càng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tốc độ tăng trưởng điện
năng càng giảm và hiệu quả sử dụng điện càng tăng. Chúng ta đang lạc hậu
hơn ai hết, lại muốn tụt hậu thêm.
Sử dụng điện kém hiệu quả
là do nền kinh tế có khuyết tật. Nếu dám nhìn thẳng vào khuyết tật để
nâng hiệu quả sử dụng điện lên, chỉ cần ngang bằng với những nước
Philippines, Inđônêxia, cũng đủ để chúng ta cắt giảm hẳn một nửa số nhà
máy điện xây mới trước 2020.
Điện hạt nhân và an
ninh năng lượng
BCĐT cho rằng ĐHN là giải
pháp bảo đảm an ninh năng lượng. Song với cách làm như BCĐT thì chẳng
những an ninh năng lượng không được bảo đảm mà độc lập tự chủ còn bị nguy
cơ. Đơn giản là vì chẳng có bất cứ chi tiết nào trong nhà máy ĐHN do
chúng ta làm ra, và chưa biết đến bao giờ chúng ta mới hết phụ thuộc vào
người nước ngoài, ngay cả khâu xây dựng và vận hành nhà máy, nhất là với
tốc độ ĐHN ồ ạt như BCĐT đề xuất. Có gì bảo đảm chắc chắn nhiên liệu hạt
nhân sẽ được cung cấp kịp thời cho hàng chục nhà máy định đưa vào vận
hành từ 2020 đến 2030?
Ai dám chắc các thanh nhiên
liệu đã cháy với hoạt độ phóng xạ rất cao sẽ được mang đi?
Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc
đều đối mặt với vấn đề an ninh năng lượng và đều thành công khi xem ĐHN
là một giải pháp. Nhưng rất khác ta, họ nhập công nghệ và nội địa hóa nó
nhờ biết cách phát triển lực lượng hạt nhân ngày càng hùng hậu, từ đó tiến
lên làm chủ công nghệ, và tìm cách bảo đảm nguồn cung cấp nhiên liệu ổn định
lâu dài.
Khi bàn đến an ninh năng
lượng ta không nên quên năng lượng tái tạo. Tại sao với thiên nhiên ưu
đãi, nắng gió quanh năm, mà năng lượng tái tạo vô tận với công nghệ đơn
giản đầy thân thiện lại không được xem là một trong những giải pháp bảo đảm
an ninh năng lượng lâu dài cho đất nước?
Năng lượng tái tạo hiện đang
còn đắt, nhưng sẽ ngày càng rẻ hơn theo xu thế chung ngày càng phổ biến
trên thế giới. Nếu đem hàng chục tỷ đô la
của dự án ĐHN Ninh Thuận đầu tư vào năng lượng tái tạo thì phương án nào
hiệu quả và đỡ rắc rối hơn? Cứ xem nước Đức từng dẫn đầu thế giới về công
nghệ ĐHN, nơi ươm tạo ra các lò phản ứng thế hệ III+, IV cho thế kỷ 21, họ
vẫn sẵn sàng từ bỏ con đường này để dựng lên những cánh quạt gió, những tấm
pin mặt trời trên khắp cả nước.
Tính khả thi
Những ai có chút ít
trải nghiệm về hạt nhân-phóng xạ ắt sẽ thấy ngay một kế
hoạch như BCĐT đề ra hoàn toàn không khả thi. Ngay những cường quốc hạt nhân như Mỹ, Nga, Trung Quốc
cũng không phiêu lưu như thế. Phần Lan, một nước rất tiên tiến về khoa học-công
nghệ, từng nhiều năm khai thác lò phản ứng VVER thế hệ II của Nga đạt hệ
số phụ tải kỷ lục 94%, song để bảo đảm an toàn hơn, họ chấp nhận đầu tư
cao gấp bội để nhập lò phản ứng thế hệ III EPR của Pháp, một trong ba lò
phản ứng đang xây dựng ở châu Âu. Nhưng trong quá trình xây dựng rất nhiều
vi phạm quy chuẩn kỹ thuật, khuyết tật đã bị phát hiện, phải phá đi làm lại.
Vì thế đến nay nhà máy đã trễ tiến độ hơn ba năm, giá thành đội lên hai lần,
mà cuộc tranh chấp bồi thường thiệt hai giữa hai bên mua-bán vẫn chưa ngã
ngũ.
Tiên tiến và đầy kinh
nghiệm như Phần Lan, lại chỉ xây một lò, mà ỳ ạch như thế, liệu chúng ta
có phép thần nào đưa tám lò vào hoạt động trong sáu năm? Trong khi hiện
nay các cơ sở nghiên cứu và triển khai của ta đang trong quá trình thoái
trào, ta không đủ chuyên gia để tự giải quyết bất cứ những vấn đề chuyên
sâu nào liên quan đến ĐHN.
Rất ít người có thể giảng dạy
môn hạt nhân, nhất là công nghệ ĐHN, ở cấp đại học. Các cơ sở đào tạo hạt
nhân luôn trong tình trạng ế ẩm, các thầy dạy chay, chất lượng đầu vào đầu
ra đều rất thấp. Hệ thống pháp quy và thực thi pháp luật hạt nhân mới bắt
đầu chập chững.
Theo báo cáo của Cục An toàn
Bức xạ và Hạt nhân (VARANS), chúng ta đang còn thiếu nhiều quy định cụ thể
để triển khai dự án ĐHN, “để có ĐHN vào năm 2020, trong ba năm 2009-2011
cần phải ban hành 45 văn bản pháp quy, và phải có ít nhất 50 người để làm
việc này”.
An toàn
BCĐT cho rằng những nhà
máy ĐHN ở nước ta sẽ bảo đảm an toàn và giá thành điện năng có
thể chấp nhận được với các lò phản ứng “thế hệ II trở lên”. Trên thực tế,
ĐHN chưa an toàn, mà cũng chính vì vậy nên người ta phải đầu tư
công sức để nâng cấp các lò phản ứng thế hệ II hiện nay lên thế hệ III và
IV.
Những thế hệ lò mới này có
tính an toàn thụ động (khi xuất hiện hiện tượng có thể dẫn đến mất an
toàn tự nó sẽ có cơ chế hóa giải kịp thời), đủ kiên cố để nhốt các chất
phóng xạ không cho thoát ra môi trường khi xảy ra sự cố nóng chảy vùng hoạt,
và chống chịu được các va đập từ bên ngoài như máy bay rơi, động đất cấp
tám trở lên. Nhưng lò thế hệ III vẫn không làm nản lòng những kẻ chủ mưu
khủng bố và phá hoại. Lò thế hệ IV sẽ loại trừ được khả năng sử dụng
nhiên liệu đã cháy để làm vũ khí hạt nhân.
Đối với Việt Nam, nhập lò phản
ứng thế hệ thứ ba trở lên là điều kiện tiên quyết để khởi động
chương trình ĐHN. Điều này cần được Quốc Hội ra quyết định dứt khoát, dù
biết chắc nó sẽ đội giá thành lên rất nhiều. Với lò EPR thế hệ III đang
xây ở Phần Lan, suất đầu tư đã lên đến 4800 USD/kW. Nhiều nguồn thông tin
cho biết suất đầu tư lò thế hệ III AP-1000 của Mỹ cũng không dưới 5000
USD/kW.
An toàn và kinh tế là hai mục
tiêu luôn đối kháng nhau, song trong bất cứ trường hợp nào an toàn vẫn phải
đặt lên trên hết. Cho nên không thể vì chạy theo mục tiêu kinh tế mà phải
hạ cấp lò phản ứng xuống thế hệ II như BCĐT đề xuất. Nghĩa là tổng đầu tư cho bốn tổ máy đầu tiên sẽ phải
lên đến quá 16 tỷ, chứ không phải 11 tỷ USD như trong BCĐT.
Để bảo đảm tính nghiêm túc của
dự án ĐHN, thiết tưởng nhà đầu tư phải long trọng khẳng định con số
tổng đầu tư này trước Quốc Hội và dân chúng.
Nhưng sử dụng lò
thế hệ III trở lên mới chỉ giảm bớt một phần rủi ro. An toàn
ĐHN bao gồm nhiều khâu công nghệ cả bên trong lẫn bên ngoài lò phản ứng,
mức độ sự cố trải rộng ra bảy cấp từ thấp lên cao. Ngay trong điều kiện
lò hoạt động bình thường, hàng nghìn nhân viên làm việc quanh lò phải trực
tiếp chịu phóng xạ, hàng vạn dân chúng sẽ nằm trong vùng chịu tác động bởi
chất phóng xạ. Họ được bảo vệ bằng phương tiện kỹ thuật và Luật Năng lượng
Nguyên tử sao cho liều chiếu xạ luôn dưới mức cho phép. Nhưng “dưới mức
cho phép” không có nghĩa là an toàn. Khoa học đã chứng minh rằng liều
phóng xạ thấp bao nhiêu cũng tác hại đến sức khỏe con người, ai tiếp xúc
với nó cũng đều phải chịu rủi ro, mức độ càng cao khi liều chiếu càng lớn.
BCĐT quên mất chuyện này.
Chất thải
Lò phản ứng tạo ra hai loại
chất thải phóng xạ. Loại có hoạt độ thấp sau khi tạm giữ trong nhà lò một
thời gian sẽ chuyển đến các nghĩa địa chôn cất lâu dài. Xử lý loại chất
thải này không khó lắm. Đáng lo hơn là loại chất thải hoạt độ cao, gồm
các thanh nhiên liệu đã cháy. Chúng được mang ra khỏi lò đem ngâm trong
các bể chứa để được làm nguội bằng nước trong hàng chục năm, chờ phân rã
bớt phóng xạ, sau đó mới tính đến chuyện vận chuyển trở lại cho hãng cung
cấp. Trong chất thải hoạt độ cao này có
các chất siêu urani sống hàng nghìn năm, lại rất độc hại, gây hiểm họa
lâu dài cho bao nhiêu thế hệ tương lai. Xử lý chất thải phóng xạ hoạt độ
cao, là thách thức rất nan giải mà ĐHN hầu như chưa có phương án giải quyết,
và cũng đồng thời là tâm điểm chống đối ĐHN, vì đây là nguy cơ mất an
toàn, lan truyền vũ khí hạt nhân và bom bẩn phóng xạ.
Với một tổ máy 1000 MW ở Ninh
Thuận, lượng phóng xạ hàng năm sinh ra do các thanh nhiên liệu đã cháy sẽ
gấp 1600 lần những gì hiện có bên trong lò phản ứng Đà Lạt đã hoạt động
hơn 25 năm, ước tính lên đến ngót một triệu curi. Từ đó nhân lên cho 8 lò
(và sẽ còn nhiều hơn nữa), mỗi lò hoạt động hàng chục năm, ta sẽ được một
con số “khủng khiếp”.
Trên nguyên tắc, nước cung cấp
lò sẽ mang đi những thanh nhiên liệu đã cháy sau vài chục năm ngâm giữ
chúng tại chỗ, nhưng câu chuyện này cũng hết sức rắc rối, khó lường. Nên nhớ rằng chỉ cần 01 curi chất phóng xạ có thể đủ gây
chết người khi nó không được bảo quản tốt. Đành rằng lượng phóng xạ khổng lồ đó được nhiều tầng bảo vệ nghiêm
ngặt, nhưng ai dám khẳng định chúng sẽ an toàn tuyệt đối trước mọi thiên
tai địch họa và sự bất cẩn của con người. Bảo
quản một lượng phóng xạ khổng lồ như vậy chẳng khác nào mang về nhà một bầy
hổ. Liệu cái cũi sắt nhốt chúng có làm cho chủ nhà và hàng xóm ngủ yên
không?
Nhân lực cho ĐHN và vấn đề
đào tạo chuyên gia

Địa
điểm dự kiến xây nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận. Ảnh:
taichinh.saga.com
ĐHN có an toàn hay không phụ
thuộc chủ yếu vào đội ngũ vận hành và hệ thống quản lý, quan trọng nhất
là bộ phận chuyên gia đầu đàn. BCĐT chẳng những không dám nhìn thẳng vào
hiện trạng thiếu chuyên gia nghiêm trọng của chúng ta, mà không vạch ra
được con đường dẫn đến những bước đột phá. Những ai có chút ít kinh nghiệm
về hạt nhân-phóng xạ sau khi đọc BCĐT sẽ hiểu ngay rằng chúng ta sẽ dựa
hoàn toàn vào người nước ngoài trong những quyết định chủ yếu nhất về
ĐHN.
Không nước nào sẵn lòng giúp
ta đào tạo chuyên gia, kể cả những nước sắp cung cấp nhà máy cho ta, bởi
ĐHN là lãnh vực rất nhạy cảm. Vậy chỉ còn cách thông qua chà xát với những
bài toán cụ thể trong chương trình ĐHN để đào tạo chuyên gia, cách làm “learning
by doing” của các nước đi sau trên thế giới. Ba mươi năm trước
đây, ngành hạt nhân Việt Nam cũng theo cách này để làm chủ lò phản ứng Đà
Lạt. Chủ trương nhập ồ ạt hàng loạt nhà máy ĐHN có nghĩa là khước từ con
đường này.
Chấp nhận rủi ro để giảm
thiểu rủi ro
Làm ĐHN là chấp nhận
rủi ro như khi ta chấp nhận rủi ro (có thể nằm trong số 30 ca tử
vong hằng ngày) để ngồi lên chiếc xe khách chạy trên quốc lộ. Theo tính
toán cho lò phản ứng thế hệ II, sai sót kỹ thuật dẫn đến nóng chảy nhiên
liệu có thể xảy ra trung bình 01 lần khi có 1000 lò chạy trong 100 năm.
Nhưng trên thực tế, tai nạn ở Three Mile Island, Mỹ, xảy ra vào năm 1979,
sớm hơn tính toán trên đây rất nhiều, khi mới có hơn một trăm lò chạy hơn
chục năm.
Tai nạn “đến sớm” như vậy
là do con người và quản lý gây ra. Chủ quan, bất cẩn, là kẻ thù không đội
trời chung với ĐHN, nó có thể làm tê liệt cả hệ thống, chẳng những xem
thường mọi quy trình quy phạm lò phản ứng mà còn dửng dưng khi sự cố xảy
ra. Tiếng nổ phá tung tòa nhà lò phản ứng Chernobyl (nổ do hydro) phải “mất”
ba ngày mới đến tai Tổng Thống Gorbachev, trước đó đám mây phóng xạ đã
kéo quá bờ Đại Tây Dương. Không phải Liên Xô thời ấy không đủ chuyên gia
giỏi, nhưng chủ quan và thiếu công khai minh bạch trong toàn hệ thống đã
dẫn đến thảm kịch. Với lò thế hệ III có khả năng nhốt chặt chất phóng xạ
lại bên trong nhà lò, những thảm họa như Chernobyl sẽ rất khó xảy ra.
Nhưng đừng quá lạc quan để rồi chủ quan. Con người có thể làm ra những
chuyện rất bất ngờ!
Rủi ro về ĐHN có
thể giảm thiểu giống như chúng ta có thể giảm số ca
tử vong hằng ngày do tai nạn giao thông nhờ nâng cao ý thức của
người đi đường, bằng luật pháp nghiêm minh và bằng cách cải thiện cơ sở hạ
tầng giao thông. Cũng vậy, quyết định làm ĐHN là chấp nhận rủi ro để cả
nước tìm cách giảm thiểu rủi ro.
Tổ chức kinh doanh ĐHN và nhà
nước phải sòng phẳng với công chúng trong chuyện này. Chẳng thế mà theo
Luật Năng lượng nguyên tử, nhà nước phải tổ chức ra hệ thống ứng phó tai
nạn hạt nhân khẩn cấp, thường xuyên diễn tập, và dành hẳn ra một khoản tiền
“đặt cọc” khá lớn để bảo đảm cho người dân “yên tâm” sẽ được bồi thường
thiệt hại khi xảy ra tai nạn.
Năng lực của đội ngũ chuyên
gia và quản lý là nhân tố chủ yếu bảo đảm giảm thiểu rủi ro. Chăm lo phát
triển đội ngũ này là cách tốt nhất để công chúng tin tưởng và ủng hộ ĐHN,
chứ không phải tuyên truyền một chiều.
Với nguyên tắc an toàn trên hết,
chỉ có thể bắt đầu dự án ĐHN khi có đầy đủ văn
bản pháp luật, quy chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn hạt
nhân để không ai có thể đứng trên luật pháp.
Phải có đội ngũ chuyên gia để
người Việt Nam quyết định công việc của nước Việt Nam. Năm 2020 chỉ nên
xem là cọc mốc để phấn đấu, từ đó tính lùi để biết những việc cần xúc tiến
gấp, quyết không thể xem là cọc mốc kế hoạch, phải thực hiện cho kỳ được,
ngay cả khi điều kiện không cho phép.
Trong quá trình thực hiện
dự án lại phải có đủ thời gian để đội ngũ chuyên gia
trong nước trưởng thành qua công việc và từng bước làm chủ công
nghệ, hạ tầng cơ sở pháp luật được thử thách, hệ thống quản lý công nghiệp
dần dần làm quen với một lãnh vực hoàn toàn mới là ĐHN. Làm như thế qua tổ
máy thứ nhất, sau đó sẽ bắt đầu tổ máy thứ hai. Làm quyết liệt, nhưng thận
trọng. Một chương trình ĐHN ồ ạt với tám lò phản ứng đưa vào vận hành
trong giai đoạn 2020-2025 chẳng những hoàn toàn không khả thi mà chắc chắn
sẽ để lại những hậu quả nặng nề cho đất nước.
Trích: Tuần Việt Nam, 26.10
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|