|
|
DC&PT -
Thời Sự 2009
Trao đổi ngỏ gửi Ông Dương Trung Quốc,
tác giả bài viết «Những người đi theo cách mạng »
Hà nội,
ngày 23 tháng 03 năm 2009
Kính
gửi Ông Dương Trung Quốc,
Vừa
rồi tôi có đọc bài viết «Những người đi theo cách mạng » của ông
đăng trên Lao Động cuối tuần số 12 năm 2009. Tôi xin được trao đổi với
ông một số chi tiết sau:
- Ông
có viết: «Lịch sử hiện đại nước ta luôn được quan niệm là lịch sử
cách mạng. Vì xuyên suốt thế kỷ XX vừa qua là cả một trường kỳ, một
chuyển đổi chính trị to lớn làm thay đổi một cách căn bản diện mạo
của đất nước từ xã hội truyền thống sang hiện đại, từ khép
kín trong thế giới Trung Hoa sang đối chọi với chủ nghĩa thực
dân phương Tây, rồi hội nhập với những trào lưu chính trị thế
giới và cuối cùng là xây dựng một thể chế cộng hòa, xác lập nền độc
lập và thống nhất quốc gia bằng cách mạng và chiến tranh cách mạng...Cách
mạng Tháng Tám 1945 hiện diện trong lịch sử dân tộc như một cái mốc
quyết định của sự chuyển đổi, như một cái bản lề mở ra một cánh cửa
mới, như một động thái « bẻ ghi » hướng con tàu của đất
nước sang một hướng đi hoàn toàn khác trước. Cuộc cách mạng ấy không
chỉ gạt bỏ cái ách thống trị của ngoại bang, giành độc lập như tổ
tiên đã từng làm trong lịch sử, mà quan trọng hơn hết là nó đã chấm
dứt vĩnh viễn chế độ quân chủ đã tồn tại cả ngàn năm, mở ra một sự
lựa chọn mới cho dân tộc trên nền tảng của một thể chế Dân chủ-Cộng
hòa. » (tôi xin nhấn mạnh bằng những chữ in đậm)
- Tôi
không nghĩ cái « xã hội hiện đại » được xây dựng sau Cách mạng
Tháng Tám 1945 là đáng ca ngợi hơn cái « xã hội truyền thống »
của ông cha ta trước đây. Chỉ căn cứ vào một tiêu chí có tính nền tảng của
mọi xã hội là tính trung thực, thì cái « xã hội hiện đại » đó
đã không vượt qua được cái « xã hội truyền thống » trước đó. Vì
nếu như trong « xã hội truyền thống » trước đó, các thư lại,
quan quân của triều đình phải phục tùng vua một cách tuyệt đối thì trong
cái « xã hội hiện đại » sau năm 1945 đó, các cán bộ nhà nước
cũng phải phục tùng tuyệt đối mọi chỉ đạo của Đảng (Lao động hay Cộng sản
Việt Nam). Và trong « xã hội truyền thống » trước đó, sự tiết
tháo giữ gìn liêm sỉ của các công chức nhà nước (nói theo ngôn ngữ hiện đại
ngày nay) trước sự hách dịch, suy đồi, hủ bại của kẻ có quyền vẫn còn là
một truyền thống. Cuộc sống phú quí thì con người ở thời nào cũng muốn,
nhưng trong « xã hội truyền thống » vẫn có nhiều công chức sẵn
sàng dứt bỏ phú quí, rũ áo từ quan chịu cảnh nghèo túng để giữ lấy liêm sỉ
như Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Khuyến,... hay giữ thái độ cương trực của kẻ sĩ
như Lê Sĩ Nghị, Ông Ích Khiêm, Nguyễn Hữu Huân,...Thử hỏi hệ thống cầm quyền trong cái « xã hội hiện đại »
sau năm 1945 của chúng ta liệu có ít sai lầm, hách dịch hay độc đoán hơn
triều đình trước năm 1945 không? Và cái « xã hội hội hiện đại »
đó đã có được bao nhiêu công chức nhà nước tiết tháo như trong «xã hội
truyền thống » vừa kể? Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam, người
trí thức phải than thở rằng « bệnh giả dối đang trở thành nỗi nhục lớn »
(lời của một giáo sư khả kính đương thời) của xã hội Việt Nam như ngày
hôm nay (sự tiếp nối của cái « xã hội hiện đại » sau năm
1945 như ông viết). Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là cái xã hội sau
năm 1945 không có những tiến bộ so với xã hội trước đó, nhưng có thể khẳng
định rằng một nền tảng quan trọng cho sự tiến bộ của xã hội đã bị hủy hoại
đi sau năm 1945.
- Tôi
không nghĩ là sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước ta đã xây dựng được một
« thể chế cộng hòa » ( ở đây xin tạm chưa nói tới chính thể Việt
Nam Cộng Hòa tại miền nam trước 1975). Theo các lý thuyết chính trị hiện
đại, định nghĩa tối giản của một chính thể Cộng hòa có thể khái
quát là “một chính thể trong đó quyền lực tối cao thuộc về nhân dân,
được thực thi thông qua các đại diện do nhân nhân bầu chọn.” Dựa trên
định nghĩa này ta sẽ thấy chính thể của Việt Nam chúng ta tại miền bắc từ
năm 1954 – 1975 và trên toàn Việt Nam từ 1975 cho đến nay (thời kỳ
chính quyền 1946-1954 là thời kỳ kháng chiến, xin được không xét ở đây)
không thể gọi được là chính thể Cộng hòa theo đúng bản chất chính trị. Chỉ
cần xét trên cách tổ chức các cuộc bầu cử quốc hội từ năm 1954 cho đến
nay và xét thực quyền của những người đại diện do dân trực tiếp bầu ra (đại
biểu quốc hội) có thể thấy rõ hệ thống quyền lực công tồn tại từ năm 1954
cho đến nay không phải do người dân quyết định. Và quyền lực hình thức của
đại biểu quốc hội Việt Nam đã bị coi thường đến mức nào thì tôi xin không
dám lạm bàn vì chính quí ông là người đang trải nghiệm.
- Về
vấn đề độc lập: cái chính thể của chúng ta vừa nhắc tới, tôi cũng không
nghĩ, là đã thoát được sự khống chế, ràng buộc với « thế giới Trung
Hoa ». Trường lịch sử của Việt Nam chúng ta luôn ghi đậm nét ảnh hưởng
và đã nhiều lần bị mất độc lập bởi « Thế giới Trung Hoa », nhưng có lẽ chưa có một chính thể nào tại Việt Nam lại
phải thuần phục đến mức áp dụng những tư vấn tai họa từ người Trung Hoa
như «cải cách ruộng đất », phải chịu sự áp đặt của Trung Hoa trong
hiệp định Geneve như chính thể sau năm 1945 trên miền Bắc Việt Nam. Và chả
nhẽ thái độ của chính quyền hiện nay về các vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa,
Hiệp định biên giới Việt-Trung, dự án khai thác Bauxit tại Tây Nguyên lại
chứng tỏ chính thể Việt Nam hiện nay đã có tinh thần độc lập, thoát khỏi
sự khống chế, điều khiển của « Thế giới Trung Hoa » ?
Trong khi đó nhiều quốc gia tương tự với Việt Nam không những đã thoát
hoàn toàn khỏi sự khống chế của «Thế giới Trung Hoa » mà còn vượt
lên đi trước cả « Thế giới Trung Hoa » như Hàn Quốc, Đài Loan,
Nhật Bản.
- Trong
bài ông có viết : «...công dân Vĩnh Thụy chỉ «đi theo cách
mạng» một thời gian ngắn sau đó lại sa vào vũng bùn phản bội
và nhận cái kết cục bi thảm của một cựu hoàng bị phế truất phải lưu
vong.» (tôi xin nhấn mạnh bằng những chữ in đậm)
-
Thưa ông Dương Trung Quốc, ca ngợi hay không ca ngợi một chế độ là quyền
của mỗi con người, cũng như việc có tán thành hay không một cải biến xã hội
(cách mạng) cũng là quyền của mỗi con người. Theo tôi, chúng ta không nên
và không có quyền kết tội những người khác chỉ vì họ có quan điểm khác
mình. Nhất là trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá cuộc Cách mạng Tháng
Tám vẫn là một việc khó khách quan. Theo tôi, có thể công dân Vĩnh Thụy
không quá say mê đi theo « cách mạng » như những công dân khác,
nhưng không thể viết là ông «lại sa vào vũng bùn phản bội ».
Trong khi khả năng nhận thức lại và quyết định lại là một trong những đặc
tính quan trọng của động vật có tư duy (nhiều nghiên cứu hiện nay cho thấy
có lẽ không chỉ là đặc tính duy nhất có ở loài người). Những người đã bị
công dân Vĩnh Thụy từ chối tiếp tục hợp tác có thể dùng từ « phản bội »
để chỉ trích ông theo lối thóa mạ. Nhưng đối với người nghiên cứu lịch sử
một cách khách quan thì không thể dùng thứ ngôn ngữ đó. Phẩm chất tối thiểu
của một công dân yêu nước, theo tôi, là cần phải dứt bỏ mọi cam kết, ràng
buộc và cả những tuyên thệ nếu những cam kết, ràng buộc, tuyên thệ đó trở
nên (hoặc được phát hiện là) nguy hại cho lợi ích chung của cộng đồng, xã
hội, đất nước. Tôi chưa thấy một nhà sử học nào chứng minh được công dân
Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) đã phản bội đất nước, nhưng điều chắc chắn là lịch
sử sẽ không thể ghi tên công dân Vĩnh Thụy vào danh sách những người có trách
nhiệm trong những thảm họa đối với dân tộc như « Cải cách ruộng đất »,
vụ án «Nhân văn giai phẩm », vụ án « Xét lại chống đảng »,
« Công hàm của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận
lãnh hải 12 hải lý của Trung Hoa », « Cải tạo công thương nghiệp »,
v.v.Và trong tình hình đất nước hiện nay, vấn đề ai đang phản bội lại đất
nước, ai đang đi ngược lại quyền lợi của nhân dân cũng đang được xã hội
bàn luận gay gắt, trong đó có rất nhiều người đã đi trọn cuộc
« cách mạng » năm 1945 đó. Và tôi thiển nghĩ, một người
« chép sử » chỉ có thể chép lại đúng lời phán xét của nhân dân
đương thời nếu thoát được bàn tay của người cầm quyền nhất thời, thưa ông.
-
Đúng là chả có gì vinh quang khi một ông vua cuối cùng của một đất nước lại
phải từ giã cuộc đời nơi đất khách quê người. Nhưng không thể lấy sự
« lưu vong » để hạ phẩm giá một con người, nhất là khi người đó
đã không còn khả năng lên tiếng. Theo tôi, tư cách, trách nhiệm của công
dân Vĩnh Thụy hay của ông Vua Bảo Đại có nhiều điều đáng bàn. Nhưng với
tư cách là người hậu thế, chúng ta không nên soi xét lịch sử bằng phương
pháp « hạ gục » nhân vật lịch sử này để tô điểm cho nhân vật lịch
sử khác. Nói như thế không có nghĩa là tôi ca ngợi hoàn toàn công dân
Vĩnh Thụy. Cũng như, theo tôi, những người chuyên viết bài để ca tụng chế
độ chính trị hiện nay không có nghĩa là họ đã hoàn toàn tán đồng với chế
độ này.
Thưa
ông Dương Trung Quốc, đó là mấy lời trao đổi xin được trân trọng gửi tới
ông. Vì ngôn từ có thể còn sự thô kệch, rất mong được ông lượng thứ và chỉ
bảo.
Trân
trọng,
Phạm
Hồng Sơn
Nhà
21 Ngõ 72 B – Thụy Khuê – Hà Nội.
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|