|
DC&PT - Thời Sự 2009
Mao và Việt Nam
Trần
bình Nam
Mối lo hôm
nay đối với người Việt Nam
là tham vọng nuốt chửng Việt Nam của Trung quốc. Từng lời
nói, từng hành động của các nhà lãnh đạo Trung quốc hiện nay đều nhắm vào
hướng này.
Nhưng
mộng bành trướng và khống chế Việt Nam của Trung quốc không phải
trong thời đại đang vươn mình này của Trung quốc mới có. Đó là giấc mộng
ngàn đời, từ thời đại các hoàng đế Trung quốc, qua các triều đại Minh,
Nguyên, Thanh. Và gần đây Đặng Tiểu Bình, người được liệt vào bậc anh
quân đã có đủ sáng suốt chuyển hướng chính trị đưa Trung quốc ra khỏi trận
cuồng phong Mácxít và Maoít cũng là người đã ra lệnh cho hàng chục sư
đoàn tiến đánh Việt Nam (2/1979). Và trước đó, Mao Trạch Đông, một nhà đại
cách mạng Trung quốc, người được coi là một hoàng đế tân thời của Trung
quốc hậu bán thế kỷ 20, người hết lòng giúp đảng Cộng sản Việt Nam trong
cuộc chiến tranh chống Pháp giành độc lập cũng – trong mọi hành động của
ông – đều có sự tính toán để uy hiếp và tối hậu thôn tính Việt Nam.
Người
Trung Hoa từ ngàn xưa vẫn xem Việt Nam là một phần đất của Trung
quốc. Những khẩu hiệu Trung quốc- Việt Nam “núi liền núi, sông liền sông” , “môi hỡ răng lạnh” chỉ là những khẩu hiệu, và mới nhất là châm
ngôn 16 chữ vàng “Láng giềng hữu
nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai.”cũng chỉ là chiêu bài để che đậy những ý đồ có tính lịch
sử của Trung quốc .
Cho
nên việc giữ nước lâu dài đòi hỏi các vua chúa Việt Nam hay những nhà
lãnh đạo Việt Nam nắm vững yếu tính lịch sử đó để có chính sách phòng ngự
thích hợp, dù đó là chính sách kinh tế, xã hội hay quốc phòng.
Đảng Cộng sản
Việt Nam
từ khi thành lập (1930) cho đến năm 1992 nắm vững được yếu tính lịch sử
này. Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp giành độc lập (1945-1954), thời kỳ xâm lăng miền
nam Việt Nam (1960-1975) cũng như sau khi thống nhất Việt Nam các nhà
lãnh đạo tại Hà Nội – dù được Trung quốc viện trợ – vẫn luôn luôn cảnh giác ý đồ của Trung
quốc.
Nhưng từ
năm 1992, do nhu cầu sống còn trước sự sụp đổ của Đông Âu và Liên bang Xô
viết, đảng cộng sản Việt Nam
trở nên lệ thuộc hoàn toàn vào Trung quốc và nền an
ninh Việt Nam
trở nên bị đe dọa. Sự bảo vệ biên giới đất liền, lãnh hải, hải đảo trở
nên càng lúc càng yếu ớt.
Trở
lại một ít lịch sử bang giao Việt Nam và Trung quốc sau khi Mao Trạch
Đông đánh thắng Tưởng Giới Thạch và thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân
Trung quốc năm 1949.
Trong cuốn
sách mới nhất về Mao Trạch Đông của bà Jung Chang viết chung với ông Jon
Halliday nhan đề “Mao: The Unknown
Story” (Những Câu
Chuyện Chưa Được Tiết Lộ về Mao) (1) bà Jung
Chang đã để dành một chương để nói về các ý đồ của Mao đối với Việt Nam
(trang 560 -566).
Theo bà
Jung Chang, mỗi hành động của Mao đối với Hồ Chí Minh đều có hậu ý. Trung
quốc giúp huấn luyện và trang bị quân đội cho ông Hồ trong chiến dịch
biên giới (1950) chủ ý là không để cho các thành phần Quốc Dân Đảng của
Tưởng Giới Thạch bị tảo thanh tại Trung quốc chạy trốn sang Bắc Việt Nam
có điều kiện trở lại tấn công Mao (2).
Nhưng đến
năm 1954, Việt Nam
mới thật sự nghi ngờ Trung quốc trước thái độ tráo trở của Bắc Kinh trong
cuộc hội đàm tại Geneve năm 1954.
Năm
1954 Mao phát động chương trình canh tân để biến Trung quốc thành một
siêu cường (Superpower Program). Trung quốc cần hiểu biết kỹ thuật và
trang thiết bị lúc đó đang bị Tây phương cấm vận. Trung quốc tranh thủ viện
trợ của Liên bang Xô viết, nhưng Mao biết chưa đủ nên Mao vận động giải tỏa
cấm vận từ Pháp vì Pháp là nước giữ được tính độc lập với Hoa Kỳ nhiều nhất.
Lúc đó Pháp
đang lúng túng tại Đông Dương. Ý của Mao là giúp Hồ Chí Minh đẩy Pháp vào
chân tường rồi sẽ ra tay gỡ kẹt cho Pháp để đổi lấy điều kiện đòi giúp đỡ
kỹ thuật. Tháng 5/1953 khi cuộc chiến tranh Triều Tiên sắp chấm dứt,
Trung quốc chuyển sĩ quan và cố vấn sang thẳng biên giới Việt Nam chuẩn bị cho chiến trường Đông Dương
mà cao điểm là cuộc chiến thắng có tính quyết định ván bài Việt Nam của
trận Điện Biên Phủ tháng 5/1954.
Theo
tài liệu của bà Jung Chang, trước khi hội nghị Geneve họp (26/4/1954) Mao
đã quyết định sẽ giúp Pháp và tìm một giải pháp nhẹ nhàng cho Pháp chứ
không để cho đảng Cộng sản Việt Nam nhân cuộc chiến thắng Điện Biên Phủ
đòi những điều kiện bất lợi cho Pháp. Thống nhất Việt Nam bằng cách đẩy mạnh các cuộc tấn công
quân sự, đuổi Pháp một lèo ra khỏi Đông Dương là một trong những chương
trình của đảng Cộng sản Việt Nam .
Ngày
7/5/1954 Điện Biên Phủ thất thủ. Ngày 17/5 chính phủ Pháp sụp đổ. Theo kế
hoạch của Mao sẽ dùng chiến trường Việt Nam đổi chác với Pháp, ngày 23/5
thủ tướng Chu Ân Lai gặp riêng tân thủ tướng Pháp Mendes France tại
Geneve và đưa ra món hàng đổi chát. Phái đoàn đảng Cộng sản Việt Nam do thủ
tướng Phạm Văn Đồng cầm đầu hoàn toàn không hay biết sự đối chác này.
Phạm văn Đồng
đưa ra một chương trình ở thế mạnh gồm chấm dứt chiến tranh, Pháp rút ra
khỏi Đông Dương, thành lập Liên bang Đông Dương Việt Miên Lào, và không đồng
ý chia cắt Việt Nam
như gợi ý của phái đoàn Chu Ân Lai. Ông Đồng nghĩ rằng quân đội Cộng sản
Việt Nam đang làm chủ chiến trường Bắc Việt, và đã kiểm soát một khu rộng
lớn tại miền Nam Trung bộ và Nam bộ nên không có lý do gì chấp nhận giải
pháp chia cắt. Mặt khác với sự mất tinh thần của quân đội Pháp sau trận
Điện Biên Phủ và thời gian hứa hẹn của thủ tướng Mendes France (3),
Hà Nội có thể đẩy mạnh các cuộc tấn công quân sự là đủ buộc đối phương phải
nhượng bộ chấp nhận chương trình của Hà Nội.
Tuy nhiên
Chu Ân Lai chỉ trích chương trình của Phạm Văn Đồng và vừa áp lực vừa dọa
rằng nếu Hà Nội tiếp tục thừa thắng tấn công đẩy Pháp vào chân tường Hoa
Kỳ và Liên hiệp quốc có thể nhập cuộc như đã xẩy ra tại Triều Tiên. Chu
Ân Lai cho biết nếu Hà Nội không ký một bản hiệp ước tạm thời chia cắt Việt
Nam thì đảng Cộng sản Việt Nam sẽ phải tự lực chiến đấu, Trung quốc không
có điều kiện để tiếp tục giúp đỡ (4).
Hồ Chí Minh
biết không thể làm ngược lại ý của Trung quốc, hơn nữa Hồ Chí Minh cũng
không muốn thấy cuộc chiến tranh Việt Nam biến thành một trận chiến tranh
Triều Tiên thứ hai nên Hồ Chí Minh ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký Hiệp định
hòa bình chấm dứt chiến tranh và chia đôi Việt Nam qua vĩ tuyến 17. Theo
các nhân chứng tại Geneve, Phạm Văn Đồng đã khóc mà tuân lệnh Hồ Chí
Minh. Chọn vĩ tuyến 17 thay vì vĩ tuyến 16 là một món quà “phụ thêm” của
Trung quốc tặng cho Pháp vì quốc lộ số 9 nối liền Lào với biển nằm giữa
vĩ tuyến 16 & 17.
Mối nghi ngở giữa đảng Cộng sản Việt Nam và
Trung quốc nẩy mầm từ đó.
Đầu
năm 1965, khi Brezhnev bắt đầu chương trình tăng viện trang bi nặng cho đảng
Cộng sản Việt Nam như súng phòng không và hỏa tiễn để chống cuộc không tập
của không quân Hoa Kỳ vào miền Bắc Việt Nam, Mao thuyết phục Brezhnev nên
dành tài nguyên đó để đương đầu phía Âu châu hơn là giúp Việt Nam. Mặt
khác Mao thuyết phục Hồ Chí Minh chớ nên quá lệ thuộc vào Mạc Tư Khoa. Chu Ân Lai - suy bụng ta ra bụng người - từng nói
với Phạm Văn Đồng rằng: “Các anh không nên nhận viện trợ của Liên bang Xô
viết … Liên bang Xô viết giúp các anh chỉ để tạo điều kiện thương thuyết
làm hòa với Hoa Kỳ thôi.”
Trong
khi đó Mao nỗ lực o bế Hồ Chí Minh. Mao cho đổ vào Việt Nam tiền bạc và hằng
ngàn tấn vật liệu và vũ khí nhẹ cùng với 130.000 binh sĩ để giúp điều khiển
súng phòng không và bảo trì hệ thống lưu thông chống cuộc oanh tạc của Hoa
Kỳ. Theo bà Jung Chang, Trung quốc còn dùng mỹ nhân kế giới thiệu một thiếu
phụ trẻ đẹp làm vợ Hồ Chí Minh, nhưng Hồ từ chối không nhận.
Ngày
31/3/1968 khi tổng thống Johnson tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm
kỳ 2 (11/1968) và đề nghị thương thuyết, Trung quốc khuyên Hà Nội đừng nhận lời,
nhưng Hà Nội vốn nghi ngờ thiện chí của Trung quốc đã nhất định đi tới và
ngày 3/4/68 tuyên bố nhận lời đề nghị của tổng thống Johnson.
Khi cuộc
thương thuyết tại Paris
bắt đầu. Chu Ân Lai nói với Hà Nội rằng Trung quốc có nhiều kinh nghiệm
thương thuyết với Hoa Kỳ nên Hà Nội cần cố vấn của Trung quốc trong phái
đoàn thương thuyết, nhưng Hà Nội tư chối. Để trả đũa Trung quốc tìm cớ
ngăn cản sự chuyển vận vật liệu chiến tranh cho Bắc Việt (của Trung quốc
và của Nga chở qua đường Trung quốc)
và cắt đứt các cuộc dàn xếp viện trợ tương lai. Hà Nội được yêu cầu đừng
gởi phái đoàn thương thuyết viện trợ dự tính đi Bắc Kinh tháng 10/1968.
Dù
bị Trung quốc làm khó khăn Hà Nội vẫn không để cho Trung quốc nắm cuộc
thương thuyết tại Paris.
Không dùng
viện trợ uy hiếp được Bắc Việt, Mao dùng phương pháp gián tiếp. Mao thành
lập một đảng Cộng sản Cambốt lấy tên là Khmer Đỏ do Polpot cầm đầu, vừa
chống Sihanouk vừa chống Việt Nam, và năm 1967 Mao định đảo chánh lật đổ
Sihanouk để thiết lập một chế độ thân Trung quốc tại đó nhưng không
thành.
Cơ hội tới
khi Lonol (với sự tổ chức của cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA) đảo chánh lật
đổ Sihanouk ngày 18/3/1970. Mao vội vàng đưa Sihanouk sang Bắc Kinh và
thuyết phục Việt Nam
phối hợp với Sihanouk thành lập một mặt trận Đông Dương chung chống Mỹ (lẽ
dĩ nhiên) dưới sự lèo lái của Trung quốc.
Chính
sách của Mao đối với Hà Nội thống nhất ở chỗ tạo trở ngại không cho Việt Nam thống nhất và ngăn cản không để Việt Nam tạo ảnh
hưởng tại hai nước Miên, Lào. Ngay cả Mặt Trận Giải Phóng miền Nam do Hà
Nội nặn ra do nhu cầu chính trị xâm lấn miền Nam Trung quốc cũng không bỏ
lỡ cơ hội ve vuốt, mua chuột để tách Mặt Trận này ra khỏi ảnh hưởng của
Hà Nội. Chính sách trước sau của Trung quốc là không để cho Việt Nam trong
bất cứ trường hợp nào trở thành một quốc gia thống nhất và hùng mạnh .
Trong
thời kỳ chiến tranh (chống Pháp 1946-1954), và xâm lấn miền Nam
(1960-1975) Hà Nội dùng chính sách đi dây giữa Trung quốc và Liên bang Xô
viết để bảo đảm nguồn viện trợ quân sự và kinh tế, nhưng sau khi thống nhất
Việt Nam (1975), Hà Nội bắt đầu có thái độ độc lập hơn với Trung quốc.
Để giải tỏa
gọng kềm của Trung quốc chọc từ phía Cam
bốt, tháng 12/1978 Hà Nội tấn công lật đổ chế độ Polpot thân Trung quốc.
Hậu quả là cuộc tấn công trả đũa của Trung quốc qua biên
giới phía Bắc tháng 2/1979.
Hà
Nội cũng chứng tỏ chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung
quốc vẫn thường tuyên bố là thuộc Trung quốc. Khi Hà Nội đẩy mạnh cuộc tấn
công trên bộ chiếm miền Nam năm 1975 Hà Nội đã cho các đơn vị hải quân ra
trú đóng tại một số đảo quan trọng trong quần đảo Trường Sa để chận trước
sự “xí phần” của Trung quốc. Sự hiện điện của quân đội Cộng sản Hà Nội tại
các đảo Trường Sa là điều làm cho Trung quốc rất khó chịu và đã dẫn đến
cuộc đụng độ tại Trường Sa năm 1988 làm cho hơn 80 chiến sĩ hải quân Việt
Nam tử trận.
Các
diễn biến trên chứng tỏ rằng cho đến năm 1992 dù bị áp lực nhiều phía của
Trung quốc các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn cố gắng thực hiện
truyền thống bảo vệ tổ quốc trước cuộc xâm lấn không mệt mỏi của Trung quốc.
Nhưng
vào năm 1992 tình hình thế giới chuyển biến đột ngột. Liên bang Xô viết sụp
đổ và Hoa Kỳ đã rút ra khỏi vùng Thái Bình Dương trong khi Trung quốc trở
nên lớn mạnh về cả hai mặt quân sự và kinh tế. Hà Nội trước sự đe dọa sụp
đổ đã phải nhờ cậy vào Trung quốc để sống còn nên mất tư thế của một nước
có chủ quyền đối với Trung quốc.
Hình
như các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay không đủ bản lãnh
để hoạch định một chính sách giữ nước trong những điều kiện mới. Và từ sự
thiếu vắng chính sách và nhân sự lãnh đạo vững vàng là một chuổi dài thua
thiệt và nhượng bộ.
Hà
Nội phải ký hai Hiệp ước đất liền (1999) và biển (2000) với những điều
khoản bất lợi cho Việt Nam.
Mất thêm đất trong vùng Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, và nhiều chục ngàn hải
lý rộng trong vịnh Bắc Việt. Vùng đánh cá của ngư dân Việt Nam trong
vịnh Bắc Việt và ngoài khơi biển Nam Hải bị hạn chế do chính sách “gunboat”
của Trung quốc. Ảnh hưởng của Việt Nam đối với hai nước láng giềng
Cam Bốt và Lào dần dần bị thu hẹp. Trung quốc đã thả hai gọng kềm hai bên
hông Việt Nam, một bên
là Lào nay hoàn toàn tùng phục Trung quốc, một bên là căn cứ tàu ngầm tại
cực nam đảo Hải Nam.
Tương lai của Việt Nam
còn lệ thuộc vào nguồn dầu hỏa trên biển Đông thì Việt Nam hiện nay
cũng không có điều kiện khai thác. Nỗ lực khai thác qua việc ký giao kèo
tìm dầu khí với công ty BP của Anh (2007) và ExxonMobil của Mỹ (2008) không
thành trước áp lực của Trung quốc.
Việt
Nam
hình như đang mất sự tự do tối thiểu của một quốc gia độc lập.
Ngư dân bị
tàu Trung quốc bắn chết (1/2005) trong Vịnh Bắc Việt Hà Nội không dám lên
tiếng công khai phản đối và đòi bồi thường.
Trung quốc
lấy đất của Việt Nam
ghép vào quận huyện của Trung quốc (12/2007) Hà Nội không dám để cho nhân
dân biểu tình bày tỏ sự phản đối .
Và năm nay,
kỷ niệm 30 năm trận chiến bảo vệ biên giới năm 1979, báo chí Hà Nội không
được viết lách tự do ca ngợi các chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ tổ quốc. Và
làm lễ chào mừng các chiến sĩ đang trú đóng tại Trường Sa mà báo chí và
các cơ sở truyền thông do chính phủ kiểm soát không loan tin… Và còn nữa!
Vậy phải
làm gì?
Phát huy nội
lực và liên kết với đồng minh là sách lược ngàn đời để cứu nước.
Liên kết với
ai? Nếu không phải với Hoa Kỳ, Úc châu, Nhật Bản, Ấn Độ, Liên bang Nga,
Liên hiệp Âu châu, Hiệp Hội Asean trong đó có trọng lượng nhất là Hoa Kỳ.
Nhưng chính Hoa Kỳ cũng đang gặp khó khăn vì cuộc khủng hoảng kinh tế và
trong kế hoạch chấn hưng kinh tế Hoa Kỳ cũng đang nhờ sự hợp tác tài
chánh của Trung quốc. Trung quốc đã không ngần ngại cho biết thế yếu của
Hoa Kỳ và cảnh giác Hoa Kỳ chớ quá nóng vội giúp đỡ Việt Nam.
Bà Hillary
Clinton tân bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ trong chuyến công du đầu tiên đến
Trung quốc (2/2009) đã lỡ lời “thỉnh cầu” Trung quốc mua trái phiếu quốc
gia của Hoa Kỳ để cùng có lợi chung thì liền ngay sau đó Trung quốc cho
tàu chiến nghênh tàu của Hoa Kỳ trong biển Đông trong một vùng biển được
hiểu là hải phận quốc tế. Để áp lực Hoa Kỳ nhượng bộ trên biển Đông, thủ
tướng Ôn Gia Bảo lên tiếng nhắc khéo rằng “không biết trái phiếu Trung quốc
đang mua của Hoa Kỳ có bảo đảm không?”
Vậy chỉ còn
phát huy nội lực là chính. Và phát huy nội lực đòi hỏi sự đoàn kết của
toàn dân sau lưng người cầm quyền. Và toàn dân chỉ đoàn kết sau lưng nhà
cầm quyền khi họ có đầy đủ quyền tự do dân chủ.
Chính sách
từ Mao, đến Đặng Tiểu Bình, rồi nay đến Hồ Cẩm Đào trước sau vẫn là khống
chế Việt Nam.
Và trong chiến lược lâu dài đương đầu với Hoa Kỳ để giành quyền bá chủ,
Trung quốc sẽ phải chủ động mở con đường về phía nam trước. Bất cứ gì
trên con đường tiến ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều phải được thôn
tính.
Việt Nam ở
ngay trên con đường tiến của Trung quốc. Chừng nào thì những người lãnh đạo
tại Hà Nội nhận thức được mối nguy mất nước để đoàn kết quốc dân cùng cứu
nước?
Trần Bình Nam
March 19, 2009
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com
(1)
Phát hành tháng
11/2006 do Anchor Books, một chi nhánh của nhà xuất bản Random House Inc.
(2)
Tác giả Qiang Zhai
trong cuốn “China
& The Vietnam
Wars, 1950-1975” the University
of North Carolina Press
cũng có nói đến ý này của Mao Trạch Đông.
(3)
Thủ tướng Mendes France hứa
rằng đến ngày 20/7/1954 ông không tìm được một giải pháp cho cuộc chiến
tranh Đông Dương ông sẽ từ chức.
(4)
Tiết lộ bởi Lê Duẫn, “Mao: The Unknown Story”
trang 562.
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|