|
DC&PT -
Thời Sự 2009
Những khó khăn
của tổng thống Barack Obama
Trần Bình Nam
Tổng thống Barack Obama đi tham dự
hội nghị G20 tại London đầu tháng Tư (2009) với tất cả hào quang của một
vị tổng thống Hoa Kỳ được lòng dân và sự ái mộ của toàn thế giới, nhất là
nhân dân các nước Âu châu.
Hào quang đó đã giúp tổng thống
Obama tạo được quan hệ tốt đẹp với tổng thống Dmitry Medvedev của Liên
bang Nga và với chủ tịch Hồ Cẩm Đào của Trung quốc. Đã có được những thỏa
thuận đáng kể như Hoa Kỳ và Liên bang Nga sẽ mở các cuộc thương thuyết cắt
giảm vũ khí nguyên tử (1), và tổng thống Obama nhận lời mời thăm viếng
Liên bang Nga vào mùa hè năm nay. Đối với Trung quốc quan hệ giữa tổng thống
Obama và chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng không lạnh nhạt như người ta nghĩ, và
Trung quốc đã có thái độ hợp tác tài chánh để khối G20 có thể hứa giúp
cho nước đang gặp khó khăn vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay
vay 1100 tỉ mỹ kim, và quan trọng hơn nữa là thuận giúp quỹ IMF để IMF có
khả năng giúp các nước đang phát triển.
Nhưng hào quang của chuyến công du
Âu châu đầu tiên của tổng thống Obama không che dấu được những đám mây “chính
trị nội bộ” đang vần vũ tại Hoa Kỳ.
Không khí tin tưởng và phấn khởi
trong những tháng đầu của tổng thống Obama tại quốc nội dường như đang đi
vào đoạn cuối. Báo chí bắt đầu nói đến sự chán nản đường lối “mua chuộc lòng dân” (populism) của tổng thống
Obama.
Một
nhà kinh tế Hoa Kỳ, ông Paul Krugman, tuy không có chức phận gì, nhưng tiếng
nói trung thực không úp mở của ông về các vấn đề chính trị xã hội và kinh
tế đã tạo cho ông một chỗ đứng được kính nể trong giới truyền thông và giới
chuyên viên. Ông Paul Krugman, giải Nobel kinh tế năm 2008 (2), giữ mục
bình luận cho tờ New York Times, giáo sư đại học Princeton phê bình các
chính sách kích cầu kinh tế của tổng thống Obama ngay từ những ngày đầu
khi dư luận và quốc hội Hoa Kỳ còn rộng mở chờ đón thành quả của ông. Và
những lời phê bình đó càng lúc càng thấy xác đáng mặc dù rất chói tai khi
mới nghe lần đầu.
Ông từng phê bình tổng thống Bush
trong suốt 8 năm 2000-2008, và ngay khi tổng thống Obama nhậm chức ông đã
phê bình chính sách kinh tế của tổng thống Obama. Ông cho rằng cứu các
ngân hàng (banks bailout) như Obama đang làm là một chính sách đi vào đường
mòn. Theo ông điều cần làm là tái cấu trúc hoàn toàn hệ thống ngân hàng.
Ông không tin nền kinh tế Hoa Kỳ có thể hồi phục với chính sách hiện nay.
Và ông tiên đoán ngân sách kích cầu kinh tế 787 tỉ mỹ kim của tổng thống
Obama sẽ không mang lại kết quả mong muốn, và vào khoảng cuối năm nay tổng
thống Obama sẽ phải đệ trình quốc hội một ngân sách kích cầu khác. Lần
này không có gì bảo đảm nó sẽ được thông qua, và sẽ là một vấn nạn có tầm
vóc đổ vỡ.
Người
ta hy vọng ông Krugman tiên đoán sai. Nhưng trong quá khứ ông từng viết
những điều khó nghe nhưng về sau đều đúng, cho nên mặc dù tòa Bạch Ốc
chính thức phản bác quan điểm của giáo sư Krugman là thiếu căn bản và quá
khích, nhưng vẫn ngay ngáy lo rằng những gì ông tiên đoán là đúng.
Một vài trích dẫn điển hình. Qua
các mục bình luận trên tờ New York Times, ngày 27/5/2005 giáo sư Paul
Krugman tiên đoán quả bong bong thị trường nhà cửa sẽ sụp đổ như thị trường chứng khoán đã đổ vào cuối thập
niên 1990. Ngày 22/9/2008 ngay sau cuộc khủng hoảng kinh tế quốc hội khẩn
cấp thông qua ngân sách kích cầu 700 tỉ mỹ kim (gọi là gói kích cầu TARP –
Trouble Assets Relief Program) ông viết, nếu ngân sách 700 tỉ mỹ kim cứu
nguy kinh tế được sử dụng như hiện nay thì nó chẳng đem lại lợi ích gì
trong mục đích vực kinh tế dậy. Ngày 23/1/2009 sau khi nghe diễn văn nhậm
chức của tổng thống Obama ông Krugman viết, tổng thống Obama nói nhiều về
kinh tế mà không có thực chất. Và ông cho rằng, tổng trưởng Tài chánh Tim
Geithner không có sáng kiến gì mới, chỉ là một người đại diện cho Wall Street
vào chính quyền chỉ để cứu các ngân hàng. Ngày 23/3/2009 ông viết, ông
Geithner chẳng cố vấn tổng thống Obama được gì ngoài chính sách vất tiền
vào sọt rác (có nghĩa lấy tiền thuế của dân cứu các ngân hàng vô trách
nhiệm).
Quan điểm của giáo sư Paul Krugman
về kinh tế đều có tính bi quan, nhưng một câu hỏi vẫn ám ảnh mọi người “nếu nó đúng thì sao”, và ác là thời
gian trôi qua các tiên đoán của ông đều đến gần sự thật hơn.
Trong gần ba tháng làm việc tổng thống
Obama đã thành công phần nào tạo lại uy tín cho Hoa Kỳ trên thế giới qua
các chính sách đối ngoại như sẵn sàng nói chuyện với Iran và ra lệnh quân
đội không được dùng phương pháp tra tấn dưới bất cứ trường hợp và hình thức
nào.
Nhưng trong nước tổng thống Obama
đã làm thất vọng nhiều người vốn ủng hộ ông. Ông không thể xây dựng một
thế lưỡng đảng. Đảng ông (đảng Dân chủ) nắm đa số tại quốc hội đã lấn tay
ông khi thông qua ngân sách kích cầu 787 tỉ mỹ kim. Bà Nancy Pelosi, chủ
tịch Hạ nghị viện là người quyết định cuối cùng cái gì có trong các bộ luật
chứ không phải tổng thống Obama. Ông chống thói quen của các dân biểu,
nghị sĩ đưa những chương trình lẻ tẻ (earmarks) vào ngân sách vì quyền lợi
riêng cho địa phương. Nhưng ngân sách kích cầu 787 tỉ mỹ kim đầy dẫy các
chương trình lẻ tẻ này.
Tuần báo The Economist vốn mạnh mẽ ủng
hộ và ủng hộ rất sớm ông Obama trong cuộc chạy đua vào Bạch cung tuần này
đưa ra một danh sách dài những nhược điểm của ông Obama:
Chính sách chấn hưng kinh tế chỉ là
phóng bản nguyên tắc kinh tế của đảng Dân chủ và do đó thiếu tính dung
hòa và độc đáo. Số tiền thật sự chi vào các chương trình chấn hưng kinh tế
sẽ có tác dụng nhưng chậm. Ngân sách (budget) đầu tiên của ông đưa ra tuy
có tính trong sáng (transparency) hơn các ngân sách trước đây nhưng quá lạc
quan (3). Các đại diện dân cử đảng Cộng Hòa cho rằng, ngân sách 2010 đã dựa
vào thuế, chi tiêu quá nhiều và vay mượn quá lố. Quan trọng hơn cả ông
Obama không có chính sách xử lý nhanh chóng các khoản nợ hàng tỉ mỹ kim
ngân hàng không thu được (toxic assets) nên dù bơm tiền vào cứu các ngân
hàng (bail out), các ngân hàng vẫn như một con bệnh liệt giường không hoạt
động được.
Cho đến giờ lập trường đứng giữa để
làm việc với cả hai đảng của ông Obama xem như thất bại. Tại Hạ viện
không có dân biểu nào bỏ phiếu cho ngân sách kích cầu 787 tỉ mỹ kim. Tại
Thượng Viện chỉ có 3 Thượng nghị sĩ. Và tổng thống Obama sẽ gặp nhiều khó
khăn tại quốc hội khi đưa ra bộ luật chi tiết cải tổ hệ thống chăm sóc sức
khỏe (health care reform law), mặc dù ngân sách 2010 đã dự liệu 634 tỉ mỹ
kim (dùng trong thời gian `10 năm) cho kế hoạch này.
Thật ra tổng thống Obama chưa làm
được những gì ông muốn làm vì ông không kiểm soát được quốc hội. Bà chủ tịch
Hạ nghị viện Nancy Pelosi mặc dù bề ngoài tỏ vẻ ủng hộ ông Obama hết mình
(4) nhưng trên thực tế bà muốn bà là người làm chủ Hạ nghị viện. Khi đang
làm bộ luật kích cầu 787 tỉ mỹ kim, tổng thống Obama đã có những cố gắng
thuyết phục một số dân biểu thuộc đảng Cộng Hòa đồng ký. Dân biểu Charlie
Dent (Cộng hòa, Alentown, Pennsylvania) đã được thuyết phục và ông muốn
làm việc với đảng Dân chủ để đưa vào một số đề nghị đặc biệt về cắt giảm
chi tiêu, nhưng bà Pelosi đã từ chối. Bà áp dụng thủ tục khẩn cấp, cắt ngắn
mọi cuộc thảo luận. Tổng thống Obama muốn cắt bỏ các chương trình phụ
(earmarks) được nhét vào luật, nhưng bà Pelosi vẫn để vì earmarks mang lại lợi ích cho các
dân biểu Dân chủ tại các địa phương.
Tuy vậy bà Pelosi và tổng thống
Obama đều biết họ cần nhau. Hào quang chiến thắng của Obama giúp củng cố
thanh thế của đảng Dân chủ, ngược lại đa số áp đảo của đảng Dân chủ tại
quốc hội cho tổng thống Obama lợi thế khi ve vãn đảng Cộng hòa. Chính nhờ
sự cứng rắn của bà Pelosi nên ông Obama mới được tiếng là chính khách
trung dung (centrist), mặc dù những gì ông hứa trong lúc tranh cử không
được thực hiện trọn vẹn như những người ủng hộ ông mong chờ. Bà Pelosi muốn
bỏ ngay luật giảm thuế (của tổng thống Bush) cho người giàu có trong khi
tổng thống Obama muốn để cho việc giảm thuế được tiếp tục cho đến khi luật
không còn hiệu lực. Bà kêu gọi rút tức khắc toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi
Iraq thì ông Obama (hôm đầu tháng Ba, 2009) tuyên bố sau khi tham khảo ý
kiến với các tướng lãnh, ông quyết định giữ lại từ 30.000 đến 50.000 quân
tại Iraq không hạn kỳ. Về việc có cần điều tra xem chính phủ Bush có vi
phạm luật không (khi cho phép nghe lén điện thoại của công dân nại lý do
an ninh), tổng thống Obama hình như muốn để cho nó trôi qua thì bà Pelosi
vẫn có ý khuyến khích quốc hội mở cuộc điều tra.
Sau 3 tháng vào Bạch Ốc tổng thống
Obama chứng tỏ là một vị tổng thống thông minh, năng nổ. Kinh tế không phải
là lĩnh vực chuyên môn của ông, ông vẫn một mình đáp ứng suôn sẻ các câu
hỏi về kinh tế của báo chí bằng những ngôn từ dân thường có thể hiểu. Tuy
nhiên các khuyết điểm của ông là thiếu kinh nghiệm (5). Ông có thiện chí
muốn mang vốn liếng chính trị to lớn của ông thực hiện những thay đổi cần
thiết một cách nhanh chóng như quần chúng mong chờ mà không tiên liệu được
sức ỳ và tham vọng của các thế lực lâu đời tồn tại tại thủ đô bên hữu
cũng như bên tả, và sức ỳ lớn nhất không ở đâu xa mà ở chính ngay trong đảng
Dân chủ của ông. Cũng vì thiếu kinh nghiệm một số nhân sự ông bổ nhiệm
vào nội các bị trở ngại phải rút lui (6), trong đó có hai vị rút lui vì từng
đóng thiếu thuế. Tổng thống Obama cũng đã nói đến và muốn thực hiện cùng
một lúc quá nhiều chương trình quan trọng: Chấn hưng kinh tế đang suy trầm,
cải tổ hệ thống chăm sóc sức khỏe, cải tổ hệ thống giáo dục, cải tổ chính
sách năng lượng để Hoa Kỳ không còn lệ thưộc vào Trung đông và giảm nhiệt
bầu khí quyễn. Kinh nghiệm chính quyền cho thấy chưa có một chính quyền
nào – dù uy tín đến đâu – cùng một lúc thực hiện được nhiều chương trình
lớn (7).
Chuyến đi Âu châu của tổng thống
Obama có thể sẽ làm dịu không khí chính trị nóng bỏng tại thủ đô. Nhưng nếu
tổng thống Obama vẫn tiếp tục dùng phương pháp vận động quần chúng (đi ra
ngoài thủ đô, thực hiện các cuộc Town Hall Meeting, xuất hiện trên các
Show quần chúng thích xem …) để áp lực các thế lực chính trị tại thủ đô
trong cũng như ngoài đảng để đẩy các chương trình to lớn của ông, ông sẽ
làm quần chúng mệt mỏi.
Nhân dân Hoa Kỳ và một phần nhân
dân thế giới mong chờ tổng thống Obama thành công chấn hưng được nền kinh
tế Hoa Kỳ trong một thời gian chấp nhận được để có khả năng tài kinh tế
tài chánh bắt tay vào những cuộc cải tổ rộng lớn hơn. Nhưng nếu vì một lý
do nào đó mà sự tiên đoán (đáng sợ) của nhà báo Paul Krugman rằng, vào
khoảng cuối năm nay tổng thống Obama sẽ phải đề nghị quốc hội thông qua một
đạo luật cung cầu khác nữa thì đó là một đại họa.
Sau mùa tranh cử là lãnh đạo và cai
trị. Hai lĩnh vực có những qui luật khác nhau. Không thể lãnh đạo bằng
phương pháp tranh cử vĩnh viễn
(permanent campaigning)./.
Trần
Bình Nam
April
5, 2009
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com
(1) Mục
tiêu cắt giảm 1/3 số vũ khí nguyên tử của hai bên.
(2) Giáo sư Paul Krugman đoạt giải Nobel kinh
tế năm 2008 nhờ sự tìm tòi của ông về các khía cạnh đặc biệt của Mậu Dịch
Quốc tế và Địa lý Kinh tế (International Trade and Economic Geography)
(3) Dự thảo ngân sách 2010 (1/10 /2009 – 30/9/2010) do tổng thống Obama
công bố và đệ nạp quốc hội ngày 26/2/2009, và hai viện quốc hội thông qua
hôm 2/4/2009 gồm 3600 tỉ mỹ kim chi tiêu, 750 tỉ mỹ kim phụ trội để dành
cứu nguy các ngân hàng và dự liệu thâm thủng 1200 tỉ mỹ kim chỉ cho năm
2010.
(4) Hôm
24/2/2009, khi tổng thống Obama đọc diễn văn trước lưỡng viện quốc hội,
bà Pelosi là người hay bất chợt đứng dậy vỗ tay tán thưởng đến độ được
báo chí mệnh danh là “Pop-up Pelosi”
(5) Bà Hillary khi đang tranh cử giành sự đề
cử của đảng đã nói (và bà nói đúng) rằng “Văn phòng tổng thống không phải
là nơi để bắt đầu học việc” (nguyên văn: “The Oval Office is no place for
on-the-job-training.”)
(6) Hai bộ trưởng Thương Mãi: Bill Richarson
& Judd Gregg, một vị phụ trách cải tổ y tế cấp bộ trưởng Tom Daschle,
một vị phụ trách kiểm soát sự chi tiêu của các bộ ngành cũng cấp bộ trưởng
Nancy Killefer, một vị đứng đầu Hội đồng Tình báo Quốc gia Charles
Freeman.
(7)
Trong cuộc đại khủng hoảng kinh tế
năm 1929, tổng thống Franklin Roosevelt, thần tượng của tổng thống Obama
chỉ đưa ra chương trình cải tổ các lĩnh vực xã hội sau khi ông đã giải
quyết xong cuộc khủng hoảng ngân hàng và tái lập sự điều hòa của tín dụng.
Tài
liệu tham khảo:
(1) “Obama’s
Nobel Headache” by Evan Thomas, tuần báo Newsweek April 6, 2009
(2) “Learning the hard way” and “Coming down
to earth” The Economist March 28 – April 3, 2009
(3) “Obama’s
Pelosi problem”, tuần báo Newsweek, March 9, 2009
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|