|
|
DC&PT - Thời
Sự 2009
„CHẮC MÁ TAO
MỪNG LẮM... !“
Võ Đại Tôn
(Indonesia-Singapore)
Chiều trên đảo Galang. Nắng chưa tắt và hơi gió biển từ xa thổi
vào lành lạnh, dường như có mùi muối mặn. Chúng tôi trong phái đoàn Văn
Khố Thuyền Nhân, mỗi người mang một tâm trạng riêng nhưng cùng chung một
tâm nguyện, âm thầm thắp nhang cắm trên các mộ bia hoang tàn. Nhiều mộ
bia đã bị đập phá, gạch đá nằm lăn lóc, cỏ cháy vàng khô. Nhiều tấm bia
đã phai mờ chữ khắc, nhiều tấm bia không có năm sinh, chỉ ghi ngày chết. Tất
cả, tất cả đều im lặng, hoang vu, ngậm ngùi. Trên bục đá cao còn sót lại
một cột cổng bằng xi-măng vào nghĩa trang, màu sơn trắng đã thành rong
rêu loang lổ, ai đã sơn thêm ba sọc màu đen từ trên xuống dưới, thành lá
cờ tang của Tổ Quốc, bơ vơ nơi xứ người. Trông thật ảm đạm, đìu hiu, tôi
nghĩ đến những dòng nước mắt màu đen của Dân Tộc hôm qua và hôm nay. Tôi
cúi đầu khấn nguyện, cắm nhang trên những nấm mộ vô danh, và tôi đang
khóc trong lòng. Vì tuổi già leo dốc cao, và vì quá xúc động trước cảnh
tượng điêu tàn hoang sơ này, tôi chợt cảm thấy mình ngộp thở, vội trao lại
bó nhang đang bùng khói cho người bạn đồng hành trong đoàn, từ Mỹ qua. “Anh
cắm nhang tiếp giùm tôi đi, tôi chóng mặt quá!”. Tôi đến ngồi bên cạnh
một mộ bia đã bị đập vụn, nghĩ về thảm trạng của cả một trời quê hương,
bên kia bờ biển Đông, và nghĩ đến những người đã chết bên này đại dương.
Dưới chân nghĩa trang, dọc theo con đường mòn, có một khu rừng.
Một tấm bảng chỉ đường ghi bằng tiếng Anh :
“Body Tree”. Trong lùm cây, có một cây đa già buông nhánh và rễ xuống tận
đất. Có người nói đấy là cây bồ đề, và bảng chỉ đường “Body Tree” có
nghĩa là khu cây bồ đề. Nhưng sự thật không phải như vậy. Dưới gốc cây có
dựng ba kệ bàn thờ nhỏ có mái che như cái “trang” bằng gỗ sơn màu đỏ.
Thuyền nhân trên đảo trước đây và dân làng địa phương gọi là “Miếu Ba
Cô”. Vài anh em trong phái đoàn, đã từng sống trên đảo này, kể lại cho
tôi nghe là có ba cô gái trên đường vượt biển đã bị hải tặc hãm hiếp, khi
đến được trại tỵ nạn trên đảo đã quá tủi nhục và uất hận, ra treo cổ tự tử
trên cành cây đa vào ban đêm. Trong ba người, có hai chị em ruột tuổi còn
nhỏ. Đồng bào tỵ nạn trên đảo đã lập miếu thờ và dân làng địa phương cho
đến nay vẫn còn gìn giữ nơi này, tin tưởng là chốn linh thiêng. Tôi nghĩ
đến tấm bảng chỉ đường “Body Tree”, có lẽ là nơi “Cây treo xác người” chứ
không có nghĩa là cây bồ đề. Tôi lặng người, đứng nhìn khu miếu hoang vu
này, ngậm ngùi nghĩ đến thân phận của những người con gái Việt Nam, vào lứa
tuổi con-em của tôi, đã theo gia đình vượt biển tìm Tự Do, để rồi phải chết
trong cảnh oan khiên. Hương lạnh hoang tàn, cô đơn nghiệt ngã. Không biết
thân nhân của những người con gái đau thương này, đã được định cư tại một
nơi nào đó trên thế giới tự do, có bao giờ trở lại để thắp một nén nhang
cầu nguyện ? Anh em trong Văn Khố Thuyền Nhân có ghi lại chi tiết về những
cái chết tận cùng khổ nhục này của các cô gái Việt Nam, nhưng tôi chỉ viết
lại cảm xúc của riêng tôi vể cảnh tượng. Tôi lại nhìn ra biển khơi và thấy
hiện ra căn nhà nghỉ mát đồ sộ nguy nga của con gái tên thủ tướng Việt cộng
Nguyễn Tấn Dũng trên bờ biển Nha Trang mà tôi đã thấy hình đăng trên báo
chí hải ngoại mới đây. Căn nhà nghỉ mát của “con gái siêu đại gia tư bản
đỏ” này, ở Nha Trang, và cái ‘Miếu ba Cô” hoang vu trên đảo Galang
chiều nay, là nghịch cảnh có thực trong cõi đời này. Nghịch cảnh giữa những
người con gái Việt Nam, đang sống và đã chết bên bờ biển Đông, trong hàng
triệu nghịch cảnh giữa lòng Dân Tộc. Những người nào còn chút lương tâm,
luôn cả nhân loại nếu còn lương tri, sẽ tự tìm ra câu trả lời vì sao ?
Trong thời đại này, theo thời gian và theo vị kỷ của con người, có lẽ hai
chữ “lương tâm” đang nằm im trên trang giấy trong tự điển.
Ngồi trên xe rời xa đảo trên đường về lại thị trấn quận hạt
Batam, tôi nghĩ thêm được những câu kết trong bài trường thi “Hồn Ca Trên
Biển Đông” mà tôi đang “viết” trong đầu về linh hồn những người đã chết với
những nấm mô điêu tàn :
Hồn mãi còn đây, dù bia
mộ hoang vu
Không tên tuổi – sá gì
tên với tuổi !
Dù xác thân đã hòa
chung cát bụi
Biển Đông còn - Hồn mãi
sống thiên thu !
Năm 2005, Hà Nội đã làm áp lực với các chính phủ Mã Lai và
Nam Dương để đập phá các tấm bia tưởng niệm Thuyền Nhân đã chết trên biển
Đông, và bây giờ, năm 2009, khi chúng tôi đến đây, Hà Nội vẫn tiếp tục
yêu cầu chính quyền Nam Dương đóng cửa các khu di tích, xóa bỏ tất cả dấu
vết Thuyền Nhân trên các đảo ! Bạo lực và hận thù của một chế độ từ bên
kia bờ đại dương đang vói tay qua sóng nước trùng khơi để hủy bỏ chứng
tích tội ác của họ, trên những ngọn đồi xứ lạ, nghĩ rằng rồi đây nhân loại
sẽ không còn thấy những di tích tang thương này của Dân Tộc Việt Nam. Rồi
đây, những bia mộ hoang tàn còn sót lại này, rồi đây “Miếu Ba Cô” tịch
liêu này, có còn không ? Tôi nhìn lên trời cao, gió chiếu thổi đám mây trắng
bay về cõi mênh mông vô định. Lòng tôi đang quấn khăn tang như màu mây trắng.
Tôi nghĩ đến thân phận Dân Tộc của tôi, vong linh những thuyền nhân đã chết,
và hình ảnh các cô gái Việt Nam treo cổ trên cành cây đa nơi xứ người ! Một
trang sử màu đen loang lổ những vệt máu khô.
Chiều nơi khu Geylang. Sau những ngày làm việc
tại Indonesia, chúng tôi đi phà từ đảo Pinang về lại Singapore để chờ máy
bay “hồi hương” ! Không phải bị “cưỡng bức hồi hương” như một số thuyền
nhân trên các đảo trước đây. Vì anh em chúng tôi trong phái đoàn phải tự
túc mọi chi phí, và đây không phải là chuyến đi du lịch vui chơi, cho nên
chúng tôi phải tìm nhà trọ tại một khu xa thành phố để tiết kiệm tối đa.
Khu Geylang hổn tạp, xô bồ, đa số là dân lao động tứ xứ với đủ sắc dân,
Tàu, Ấn Độ, Mã Lai, Nam Dương, luôn cả du khách ba-lô từ các nước phương
Tây dồn về. Ban ngày dường như ai cũng ngái ngủ, quán xá phần đông đóng cửa,
nhưng từ 3-4 giờ chiều cho đến sáng hôm sau thì tấp nập dòng người chen
chân qua các khu phố. Bàn ghế ăn uống nhậu nhẹt đặt sát lề đường, không
còn một chỗ ngồi. Các quán ăn rộn rịp, om sòm đủ mọi thứ tiếng. Xe cộ dập
dìu, mạnh ai nấy băng qua đường, xe phải tránh người. Từ nhà trọ, tôi
lang thang bách bộ đi qua các con hẻm để quan sát cảnh sống ban đêm nơi xứ
người. Tại nhiều góc hẻm, dân chúng tụ tập quanh các bàn cờ bạc đủ loại,
tài xiu, sóc dĩa, quay số... không thấy bóng một cảnh sát viên nào. Ở đâu
tôi cũng thấy các cô gái phấn son, ăn mặc hở hang khiêu gợi nhưng có vẻ
nghèo nàn. Toàn là gái trẻ, có nhiều cô chỉ vào lứa tuổi 14-15. Có cô đứng
ngay bên lề đường để đón khách, có cô thì ngại ngùng nép mình bên vach tường
phố, đưa tay nhẹ vẫy, với nụ cười chập chờn qua ánh đèn màu lòe loẹt. Mỗi
lần tôi đi ngang các cô gái này, cô nào cũng bập bẹ nói tiếng Anh “You go
– Me good !”. Linh cảm cho tôi biết đa số là những cô gái Việt Nam. Lòng
tôi se thắt lại. Đây là khu ăn chơi bình dân, giang hồ tứ chiếng, và tôi
chợt nhìn thấy nhiều thanh niên bụi đời đang đứng trong bóng tối rình rập,
canh chừng các cô gái. Ma-cô đầu gấu. Thỉnh thoảng các cô lại đến thì thầm
gì đó, móc túi đưa tiền cho các gã, hoặc đi theo khách vào các nhà trọ
trong khu vực. Tại nơi chúng tôi tạm trú, tôi thấy có tấm bảng ghi $10 đô
la Singapore 1 giờ thuê phòng. Các cô gái trẻ đi với khách đủ loại và mất
hút vào cầu thang, có cô thản nhiên, có cô rụt rè. Đi qua chỗ mấy sạp bán
trái cây, đặc biệt là sầu riêng thơm lừng, trước cửa một khu “disco” đèn
chớp sáng, tôi thấy các cô gái ăn mặc rất khêu gợi và tôi cũng được mời
“You go – Me good”. Tôi lắc đầu bước đi và thoáng nghe sau lưng mấy cô
nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt.
Bước vào một tiệm đổi và chuyển tiền để đổi một ít tiền
Singapore (thường được gọi là đô la Sin) để đi ăn tối, tôi thấy hai cô
gái đang đứng trước quày. Tôi sắp hàng đứng sau lưng. Hai cô cũng mặc quần
ngắn, áo mỏng manh, tuổi nhỏ khoảng 16-17, son môi đỏ chói. Chợt tôi nghe
một trong hai cô, sau khi chuyển xong tiền, buộc miệng nói tiếng Việt : “Kỳ
này tao gửi về được 50 đô. Chắc má tao mừng lắm !”.
Cô kia thở dài : “Tao chưa gom đủ tiền, cuối tháng mới gửi được về
nhà”.Rồi cả hai bước ra cửa. Tôi vội đổi một ít tiền, chạy theo hai
cô gái, vào một quán ăn bên đường. Tôi đến đứng bên cạnh bàn hai cô đang
ngồi, định bắt chuyện thì một trong hai cô đã hỏi ngay : “You go – Me
good” ! – Tôi ngòi xuống bàn và nói nhỏ : “Tôi
là người Việt mà. Mời hai cô ăn uống gì với tôi cho vui”. Cả
hai cô đều nhìn tôi ngạc nhiên rồi hỏi nhỏ, bằng tiếng Việt : “Bác ở
đây hay là người nước ngoài tới chơi ? Bác “đi” không ?
“Đi” một đứa hay cả hai cũng được, “xâu” luôn nha !”. Tôi mĩm cười : “Hai cô ăn uống gì không, tôi mời đó. Tôi ở
xa mới tới đây, ngày mai đi rồi”. Tôi gọi ba tô mì và nước dừa tươi.
Sau một vài phút thì thầm gợi chuyện, có lẽ thấy tôi là một “ông già”
không có tình ý gì xấu, hai cô bắt đầu cởi mở hơn, gọi tôi bằng ông và tự
xưng là cháu, và vừa nói chuyện vừa nhìn quanh. Thông thường, các cô gái
làm nghề này lâu năm thì trường đời đã dạy thêm chua ngoa, lừa lọc, phịa
chuyện đau thương để làm động lòng khách, nhưng riêng với hai cô gái này,
tôi nhận thấy vẫn còn chất đồng quê chân thật. Hơn nữa, tôi chỉ gợi chuyện
hỏi về những điều không đi sâu vào đời sống riêng tư và đường dây chuyển
người. Tôi được biết : - Hai cô gái này đều 18 tuổi, quê ở Vỉnh Long,
sang đây được gần một tháng nay. Cuối tháng sẽ đi phà qua quận Batam ở
Nam Dương rồi về lại Singapore, ở thêm mỗi lần như vậy được một tháng như
là khách du lịch, nhưng chỉ tối đa được ba lần mà thôi. Tôi được biết
thêm là tại khu vực này đa số đều là gái từ miền Nam qua, gọi là đi du lịch
hoặc xin học nghề, có người bảo lãnh lo mọi thủ tục. Có luôn cả người đi
theo canh chừng. Các cô lén chỉ cho tôi mấy gã thanh niên đang ngồi ăn ở
góc quán. Không được ngồi chơi với khách, phải dẫn khách đi ngay vào nhà
trọ thuê phòng, hoặc qua giờ hoặc qua đêm. Nếu ngồi nói chuyện lâu thì phải
trả tiền như là “bao trọn”, với sự đồng ý của mấy gã “đầu gấu”, cũng toàn
là người Việt, hoặc là phải “báo cáo” với má-mì. Phần đông các cô đều là
gái miền quê, muốn đi tìm chồng ở Singapore hoặc được cam kết cho đi học
nghề, nhưng thực ra là qua đây bị ép buộc phải “đi khách”. Trước khi đi
phải đóng tiền thế chân khoảng 2.000 mỹ kim cho môi giới, và mỗi tháng phải
đóng tại đây 700 tiền đô la Sin. Còn lại bao nhiêu thì được tiêu xài hoặc
gửi về gia đình. Trung bình mỗi cô “làm” được khoảng 1000 đô Sin mỗi tháng
nếu đắt khách, nhưng những cô lớn tuổi, từ 25 trở lên đều bị chê là già,
không ai gọi đi. Càng trẻ càng có giá, tôi được biết thêm là có nhiều cô
chỉ mới 15 tuổi cũng đi “học nghề” và được khách ở Singapore ưa chuộng
“tuổi trẻ” lắm. Ở Singapore có một khu riêng chỉ toàn gái dưới 15 tuổi,
cũng từ Việt Nam qua. Tôi im lặng ngồi nghe, rợn người, thỉnh thoảng gợi
thêm chuyện để tìm hiểu. Các cô được đưa qua đây, 10 cô ở chung một
phòng, ăn uống tự túc, ban ngày ngủ, ban đêm ra phố “làm việc”, có đầu gấu
đi theo để thu tiền và bảo vệ. Gia đình ở quê nhà chỉ biết lo chạy tiền,
vay nợ, để gửi con gái mình đi học nghề ở nước ngoài. Đang ngồi nói chuyện,
có má-mì cũng người Việt đến bàn hỏi hai cô là tôi có “đi” không ? Tôi vội
trả lời thay, là tôi chỉ ngồi ăn uống cho vui thôi. Má-mì giục hai cô ra
xe taxi chờ sẵn vì có khách bao đi đêm, tôi phải trả 10 đô Sin cho buổi
nói chuyện ngắn ngủi này, coi như là tiền “tiếp khách chay”. Hai cô chào
tôi rồi chạy ra xe, taxi lách qua dòng người mất hút vào đám đông.
Tôi thẩn thờ quay về nhà trọ, đi giữa đám đông xa lạ, chợt
thấy mình lạc lõng bơ vơ. Tôi nghe nói là Singapore gần đây đã nới lỏng
việc phục vụ khách du lịch về mọi phương diện, kể cả mại dâm trá hình, để
tăng trưởng kinh tế và nhất là để đáp ứng nhu cầu cho dân số nam nhiều
hơn nữ. Riêng về ma túy thì kiểm soát rất gắt gao, vẫn còn thực thi án tử
hình. Ở Singapore hiện nay, tìm được một người vợ vừa ý và làm đám cưới
là một điều ảo tưởng, đa số đàn ông không thể thực hiện được. Các cô gái
Việt Nam đã đáp ứng nhu cầu đó, qua nhiều đường dây môi giới. Lịch sử Dân
Tộc chúng ta trước đây chưa bao giờ xảy ra hiện tượng buôn người ra nước
ngoài như hiện nay.
Tôi bước đi giữa dòng người nơi xứ lạ, tại một khu vực nghèo
nàn, hổn tạp, mà lòng tôi xốn xang. Thương nước, thương cho các thế hệ tuổi
trẻ cùng chung dòng máu phải tìm mọi cách qua xứ người để bán thân nuôi
mình và gia đình, và luôn cả thương mình đang lưu vong. Hình ảnh căn nhà
nghỉ mát nguy nga của cô con gái thủ tướng Việt cộng tai bờ biển Nha
Trang, hình ảnh “Miếu Ba Cô” trên đảo Galang, hình ảnh chiếc xe taxi chở
hai cô gái Vĩnh Long bằng tuổi con-cháu tôi chạy vù trong bóng đêm tai
khu Geylang, đi về đâu và sẽ bị dày vò trong vòng tay ai... đang âm thầm
bước theo tôi, sẽ đồng hành cho đến cuối hành trình còn lại trong đời. Và
câu nói của cô gái bán thân gửi về cho mẹ 50 đô la Sin “Chắc má tao
mừng lắm”, mãi còn văng vẳng bên tai tôi. Dân Tộc
tôi dưới chế độ cộng sản thực sự là một khổ nạn đến tận cùng !. Mong rằng
hai chữ “lương tâm” của con người sẽ không còn nằm im trên trang giấy
trong tự điển.
Võ Đại Tôn
Chiều Geyland, Singapore.
16.10/2009.
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|