|
>> Phép thử đối với chính
sách Trung Quốc của Obama
Biển Đông
Nam Á, tại sao?
Trước hết, tôi xin giải thích tại sao lại nên gọi là tranh chấp
chủ quyền biển Đông Nam Á.
Hiện nay, ngôn ngữ quốc tế gọi khu vực biển có tranh chấp ở
Đông Nam Á là “biển Nam Trung Hoa” (South China Sea
hay La Mer de Chine du Sud), có lẽ vì Trung Quốc được lấy làm vị trí
chuẩn, chứ không mang ý nghĩa là biển này thuộc Trung Quốc.
Việt Nam đã
gọi biển này là biển Đông cũng có ý nghĩa lấy Việt Nam làm vị trí chuẩn. Philippines
cũng có thể tự lấy mình làm chuẩn và đặt tên biển này là biển Tây. Cũng thế, Malaysia có thể gọi
là Biển Bắc.
|

|
|
Tinh thần gìn giữ chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ đất nước "Biển của ta, đảo của ta!" được thể hiện
trong triển lãm ảnh kỷ niệm 50 năm truyền thống Bộ đội biên phòng
Việt Nam, tại TP.HCM.
|
Cách tốt nhất là lấy
tên của khu vực Đông Nam Á để đặt tên cho khu biển này, bởi vì nó nói
lên tính quốc tế của vấn đề tranh chấp, đụng chạm đến trung tâm lợi ích
về an ninh và kinh tế của các nước trong vùng Đông Nam Á, và đến chiến
lược bành trướng của thế lực quân sự lớn nằm ngoài vùng muốn chiếm đoạt
thật sự hoặc tạo ra đe dọa quân sự nhằm o ép các nước trong vùng chia
phần lợi ích kinh tế cho họ và chấp nhận vòng ảnh hưởng của họ.
Yêu sách của Trung Quốc
Trung Quốc tuyên bố
nhiều lần là chủ quyền của họ là trên toàn biển Đông Nam Á được xác định
như một lưỡi bò, kéo dài từ Hải Nam đến tận Mã Lai (xem
thêm bản đồ Trung Quốc tự vẽ ở dưới). Với việc xác định như
thế, toàn biển Đông Nam Á là lãnh hải Trung Quốc, không còn phân biệt
đâu là lãnh hải kể từ đường cơ sở xác định từ đất liền, đâu là vùng đặc
quyền kinh tế và tất nhiên là không còn hải phận quốc tế nằm ngoài
hai khu vực trên trên biển Đông Nam Á.
Nếu như thế, Việt Nam,
Philippines và các nước khác mỗi lần đi qua biển Đông Nam Á trên
nguyên tắc đều phải đặt dưới sự kiểm soát của Trung Quốc.
Việc xác định chủ quyền
trên toàn biển Đông Nam Á của Trung Quốc đi ngược lại hoàn toàn Luật
biển Liên Hợp Quốc và những hành động của họ đã và đang trở thành mối
đe dọa thường xuyên cho an ninh của các nước trong vùng và của tất cả
các nước phải đi lại qua vùng Đông Nam Á.
Tại sao việc xác định
chủ quyền như thế là sai? Bởi vì Luật biển chỉ cho phép lãnh hải mà
quốc gia có hoàn toàn chủ quyền nằm trong khu vực 12 hải lý tính từ
đường cơ sở, và vùng được phép khai thác kinh tế (gọi là vùng đặc quyền
kinh tế) rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Trên thực tế ở biển
Đông Nam Á, nếu giả dụ có một địa điểm nào đó được công nhận là đảo
thuộc Trung Quốc và như thế nó có lãnh hải, có vùng đặc quyền kinh tế
ở chung quanh, nhưng điều này cũng chỉ cho phép Trung Quốc có chủ quyền
vài chỗ trên biển Đông Nam Á, chứ không thể trên toàn biển Đông Nam
Á.
Hơn thế, coi những đá ở
Hoàng Sa và Trường Sa là đảo là điều còn phải bàn cãi trên cơ sở Luật
biển của Liên Hợp Quốc. Đảo theo định nghĩa của Điều 121 của Luật Biển
“…là vùng đất hình thành tự nhiên, bao bọc bởi nước và nằm cao hơn
nước khi thuỷ triểu lên.” Tức là nó không phải là “đá” vì theo Điều
122 “Đá (rocks), nơi không có khả năng kéo dài được việc cư trú
(sinh sống) của con người và đời sống kinh tế riêng của nó, không được
phép có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa….”
|

|
|
Biển Đông dậy sóng. Ảnh:
Khanhly.net.
|
Như thế có thể nói là trên Hoàng Sa và Trường Sa, khó có thể chứng
minh một nơi nào đó là đảo, vì cho đến khi có tranh chấp mới đây,
không nơi nào có khả năng kéo dài được việc cư trú tự nhiên của con
người, nếu không dựa vào tiếp tế và các công trình xây dựng nhân tạo
được dựng lên. Luật biển Điều 60 nói rõ: “Các đảo nhân tạo, các
thiết bị công trình không được hưởng qui chế của đảo.”
Trung Quốc đã đi quá
điều ước quốc tế mà họ ký. Thật ra, họ đã dùng sức mạnh quân sự để
chiếm đóng vùng biển, mà trong lịch sử rất dài không có dân Trung Quốc
sinh sống thường xuyên và cũng không có mặt của nhà nước Trung Quốc thủ
đắc địa điểm trên biển Đông Nam Á.
Những địa điểm trên
Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc đang nắm là kết quả của việc đem
quân chiếm đóng từ tay chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước đây (chiếm
Hoàng Sa năm 1974) và chính phủ CHXHCN Việt Nam (chiếm một số đảo ở
Trường Sa năm 1988), và gần đây nhất là từ tay Philippines (chiếm
Mischief Reef vào tháng 2 năm 1995).
|

|
|
Bản đồ Trung Quốc vẽ. Nguồn: Bản đồ
du khách và giao thông của Hải Nam
năm 1999, phỏng theo Stein Tonnesson, “China
and the South China Sea: A Peace
Proposal.” Security Dialogue, Vol.
31, No. 3 September 2000.
|
|

|
|
̣Đường đỏ là vùng Trung Quốc
tuyên bố chủ quyền; Đường xanh là các khu vực kinh tế EEZ
theo Công ước LHQ về luật biển; Các đảo xám là nơi có
tranh chấp.
Bản đồ từ BBC.
|
Yêu sách của Mỹ
Là một thế lực toàn cầu,
Mỹ đã luôn luôn chủ trương là quyền thông thương tự do trên biển Đông
Nam Á là thuộc lợi ích của Mỹ. Chính vì thế, Quốc hội Mỹ ra nghị quyết
vào tháng 3 năm 1995 nhấn mạnh: “Quyền đi lại tự do trên biển Nam Trung
Hoa nằm trong lợi ích chiến lược của Mỹ.” Ngày 10 tháng 5 năm
1995, Bộ Ngoại giao Mỹ phát biểu mạnh hơn: “Mỹ sẽ rất quan tâm đến
bất cứ một đòi hỏi liên quan đến biển hay ngăn cản hoạt động hàng hải
ở biển Nam Trung Hoa, không phù hợp với Luật Biển.
”Vào 16 tháng 6 năm
1995, Joseph Nye, Phụ tá Bộ Trưởng Quốc phòng về An ninh Quốc tế nói
với báo giới ở Tokyo là “nếu hành động quân sự xảy ra ở quần đảo
Trường Sa và ngăn cản tự do đi lại trên biển cả thì chúng tôi sẵn
sàng hộ tống và bảo đảm rằng thông thương tiếp tục.”
Những tuyên bố này nhằm
cảnh cáo Trung Quốc khi họ mang quân chiếm MisChief Reef từ
Philippines vào tháng 2 năm 1995. Nhưng chúng cũng phản ánh thái độ dứt
khoát của Mỹ về quyền tự do đi lại trên hải phận quốc tế.
Trước đó, vào 1 tháng
4 năm 2001, Mỹ cho máy bay thuộc Cục An ninh Quốc gia (National
Security Agency) bay qua vùng biển thuộc biển Nam Trung Hoa. Trung Quốc
cho máy bay bay theo và đụng vào máy bay Mỹ. Máy bay Trung Quốc rớt,
còn máy bay Mỹ bị hư hại phải hạ cánh xuống Đảo Hải Nam, gây ra tình
trạng căng thẳng giữa hai nước.
|

|
|
Mỹ đã cho rằng tàu chiến của Trung Quốc
“lượn quanh và diễu hành một cách khiêu khích và nguy hiểm sát ngay
khu vực chiến hạm Mỹ USNS Impeccable". (Ảnh do Hải quân Mỹ công
bố)
|
Mỹ đã xin lỗi về sự kiện đụng máy bay Trung Quốc rơi, nhưng từ chối
xin lỗi về cái mà Trung Quốc kết án là Mỹ xâm phạm vào chủ quyền
Trung Quốc. Mỹ cho rằng bay ngoài vùng cách lãnh hải Trung Quốc 60 km
(32 hải lý) là thuộc quyền tự do thông thương trên bầu trời nằm trên vùng
đặc quyền kinh tế; việc này hoàn toàn hợp pháp theo Công ước về Luật
biển.
Lần này, ngày 10 tháng
3, nhân Obama mới nhận chức, và nhân việc Mỹ cho tầu có tên USNS
Impeccable thám thính hoạt động tầu ngầm của Trung Quốc trong vùng biển
Đông Nam Á cách đảo Hải Nam 75 dặm, ngoài vùng lãnh hải và thuộc
khu đặc quyền kinh tế, Trung Quốc cho 5 tầu chiến gây hấn. Mỹ cũng đã
cực lực phản đối Trung Quốc, và coi đây là quyền tự do lưu thông theo
Luật biển.
Luật biển Liên Hợp Quốc
Hành động và tuyên bố
của Mỹ về biển Đông Nam Á hoàn toàn phù hợp với việc bảo đảm quyền tự
do lưu thông trong hải phận quốc tế, phù hợp với Luật biển Liên Hợp
Quốc.
Vùng đặc quyền kinh tế
không thuộc hải phận mà quốc gia có quyền khai thác kinh tế có chủ
quyền quốc gia.
Chủ quyền
(sovereignty) chỉ được xác định trong vùng lãnh hải (territorial
sea) – theo Điều 2. Tuy nhiên, ngay cả trong vùng lãnh hải thuộc
chủ quyển của nước sở hữu, Điều 17, 18 và 19 cũng vẫn cho phép tầu bè
và máy bay nước ngoài có quyền “đi lại không gây hại” (innocent
passage), là đi hoặc bay ngang qua, liên tục, nhanh chóng, không
được đậu lại trừ trường hợp lâm nạn trong vùng lãnh hải (12 hải lý) của
nước khác mà không cần xin phép, miễn là không ảnh hưởng đến an ninh
và môi trường nước sở hữu lãnh hải.
Quyền tự do đi lại
trong vùng đặc quyền kinh tất nhiên (tức là vùng mà nước có quyền có
chủ quyền đối với việc khai thác lợi ích kinh tế từ vùng) không được
bàn tới. Khi không có điều khoản nào trao quyền hạn chế đi lại cho nước
có quyền khai thác kinh tế, như điều khoản cấm "việc đi lại
không gây hại" áp dụng đối với lãnh hải, thì điều này có
nghĩa là quyền tự do đi lại ở đây giống như trên biển khơi.
Tính chất tranh chấp
ở biển Đông Nam Á
Những tranh chấp hiện
nay ở biển Đông Nam Á đã nói lên được những điểm sau:
- Tranh chấp mang tính
quốc tế, đa phương hoàn toàn không mang tính song phương giữa Trung
Quốc với từng nước Đông Nam Á, hay với Mỹ và do đó chỉ có thể giải
quyết trên cơ sở đa phương phù hợp với luật pháp quốc tế.
- Việc giải quyết hòn
đá nào là đảo, và nếu là đảo thì thuộc chủ quyền nước nào trong nhiều
nước tranh chấp phải vừa dựa trên việc diễn giải Luật Biển, vừa dựa
trên chứng cớ lịch sử, thủ đắc mang tính lịch sử, vượt khỏi sự thủ đắc
bằng bạo lực. Đây cũng không thể là vấn đề song phương.
- Quốc hội Philippines
đã tuyên bố vùng chủ quyền trên biển Đông Nam Á sau khi tố cáo chính
quyền bị Trung Quốc o ép và mua chuộc. Họ cũng tuyên bố sẵn sàng
thương thảo đa phương.
- Cho đến nay việc chiếm
đóng bằng bạo lực chỉ có một quốc gia đã bằng mọi cách thực hiệc, đó
là Trung Quốc, chứ không phải từ một nước nào khác. Và hành động chiếm
đóng xảy ra trong vùng biển Đông Nam Á do đó có ảnh hưởng thiết thân
đối với các nước Đông Nam Á. Điều này đòi hỏi các nước Đông Nam Á
đoàn kết lại, tiến tới cùng quan điểm, trong việc thương thảo với
Trung Quốc. Còn Trung Quốc cho đến nay vẫn tuyên bố sẽ chỉ thương thảo
song phương với từng nước Đông Nam Á.
|

|
|
Ảnh: Blog Hồ Trung Nghĩa.
|
- Quyền tự do đi lại
và bay trên hải phận quốc tế theo Luật biển Liên Hợp Quốc cần được bảo
vệ. Quan điểm bảo vệ này là khước từ chấp nhận việc Trung Quốc có chủ
quyền trên toàn bộ biển Đông Nam Á. Bảo vệ quyền thông thương cũng là
bảo vệ an ninh cho toàn khu vực.
Mỹ và Việt: tìm cái
“đồng” vì sự ổn định của Đông Nam Á
Nếu tôi không lầm, hiện
nay lợi ích của Mỹ và Việt ngày càng gần nhau trong việc giải quyết
tranh chấp biển Đông Nam Á: ít nhất ở ba điểm: (1) tự do lưu thông
trên hải phận quốc tế, (2) chống lại các hành động bạo lực nhằm xác định
chủ quyền ở biển Đông Nam Á và (3) cổ vũ cho việc dùng thương thảo
hòa bình, đa phương để giải quyết tranh chấp.
Đồng quan điểm này trước
đây không có. Ít nhất cho đến khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1989, Mỹ và
Trung Quốc đã cấu kết với nhau trong Thỏa thuận Thượng Hải vào năm
1972 vừa để giải quyết chiến tranh Việt Nam vừa để chống Liên Xô,
hoàn toàn bất lợi cho chủ quyền của Việt Nam. Chính vì thế Mỹ đã im
tiếng khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng hòa năm 1974 và
chiếm một số đảo ở Trường Sa năm 1988.
Chỉ sau khi Liên Xô sụp
đổ và chỉ khi Trung Quốc tiến chiếm Mischief Reef trong tay
Philippines vào năm 1995 thì Mỹ mới ngã ngửa về chủ nghĩa bành trướng
ở biển Đông Nam Á của Trung Quốc và từ đó mới xác định ba quan điểm
nêu ở trên, dù rằng Mỹ tuyên bố không có quan điểm về đúng sai trong
tranh chấp lãnh thổ giữa các nước ở biển Đông Nam Á.
Chính quyền Việt Nam vẫn
có thể nghi ngờ Mỹ có ý đồ diễn biến hòa bình; ngược lại Mỹ cho rằng
họ chỉ lên tiếng bảo vệ nhân quyền vì đây là trách nhiệm của họ, phù
hợp với Tuyên bố về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc. Đây là điểm bất đồng
ta có thể hiểu được, và lúc nào đó có thể tiến tới thỏa thuận về
phương cách xử lý mà hai bên có thể đồng ý.
Tuy nhiên, vì lợi ích
lâu dài mãi mãi của đất nước, Việt Nam nên cùng với các nước Đông Nam
Á và Mỹ, phát huy ba quan điểm liên quan đến tự do lưu thông ở biển
Đông Nam Á, chống lại việc dùng bạo lực xác định chủ quyền, và cổ vũ
dùng thương thảo hòa bình đa phương để giải quyết tranh chấp. Không
những thế, cần thành lập cơ chế hợp tác giữa ASEAN và Mỹ để phát huy,
cổ vũ cho chiến lược trên.
- Ts.
Vũ Quang Việt (nguyên chuyên gia cao cấp thống kê Liên Hợp Quốc)
Ghi chú: Bạn đọc
có thể đọc những ghi chú về nguồn thông tin trong bài viết của cùng
tác giả trên Đi tìm một giải pháp hoà bình hợp công lý cho
Biển Đông Nam Á, Thời Đại Mới số 11 năm 2007.
Trích: Vietnamnet 13.3
|