Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng 4
dưới mắt TS Cù Huy Hà Vũ
Huy PhươngThứ Năm, 29 tháng 4 2010

Hình: Cù Huy Hà Vũ
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (phải) và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
VOA: Thưa
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhiều người cho rằng trong chiến tranh Việt Nam
người Mỹ không thua trận trên chiến trường mà thua tại sân nhà, do các
làn sóng phản chiến trên các đường phố Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Một trong những
người này là Tiến sĩ Roger Canfield đã nói như vậy trong một cuốn
sách của ông ấy mới đây. Tiến sĩ nghĩ sao về nhận định này?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoa Kỳ cho rằng họ can thiệp
quân sự ở Việt Nam là nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng
sản mà Miền Bắc Việt Nam là “tiền đồn” ở Đông Nam Á trong bối cảnh chiến
tranh lạnh. Vì vậy, việc Hoa Kỳ đã thua trong chiến tranh Việt Nam
đương nhiên có nghĩa họ đã bại trận trước chủ nghĩa cộng sản, điều mà
Nhà trắng và nhiều người khác hẳn không thể và không muốn chấp nhận.
Vậy cần phải có một lý giải khác về thất bại quân sự của Hoa Kỳ tại Việt
Nam và tôi cho rằng Tiến sĩ Roger Canfield đã đi theo hướng đó bằng
cách cho rằng Hoa Kỳ thua trận là do người dân nuớc này phản chiến.
Quan điểm của cá nhân tôi là Hoa Kỳ đã thật sự thua trên chiến trường
Việt Nam và các làn sóng phản chiến trên các đường phố New York,
Washington… chỉ là hệ quả, phản ánh sự mất kiên nhẫn của người dân Mỹ,
đặc biệt trước thiệt hại quá lớn về sinh mạng của lính Mỹ.
Thực vậy, ngoài con số hơn 300.000 lính Mỹ bị thương, số lính Mỹ chết
trong “Chiến tranh cục bộ” từ 1965 đến 1968 tại Miền Nam Việt Nam là
khoảng 58.000, gấp đôi số lính Mỹ chết trong chiến tranh Triều Tiên từ
1951 đến 1953, trong khi cộng sản Triều Tiên còn có sự hỗ trợ của gần 3
triệu lượt quân Trung Quốc.
VOA: Vậy theo ý ông chủ nghĩa cộng sản đã thắng Hoa Kỳ
tại Việt Nam cách nay 35 năm?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Có một thực tế là Mỹ đã thua trận
trước các lực lượng cộng sản Việt Nam nhưng điều này tuyệt nhiên không
có nghĩa chủ nghĩa cộng sản đã thắng Mỹ.
Như chúng ta đã thấy, chủ nghĩa cộng sản dưới màu sắc chủ nghĩa xã hội chưa
bao giờ là một hiện thực ở Việt Nam bởi cho đến ngày hôm nay hệ tư tưởng
ấy vẫn chỉ là “định hướng” như chính ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam thừa
nhận.
Nói cách khác, tính ưu việt hay hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội so với chủ
nghĩa tư bản mà Hoa Kỳ đại diện chưa bao giờ được chứng minh ở Việt Nam
nên sẽ là quàng xiên khi nói rằng bên chiến thắng trong cuộc chiến
tranh Việt Nam là hệ tư tưởng cộng sản. Sự sụp đổ ngoạn mục của Liên Xô
và phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước
chỉ có thể xác nhận quan điểm này của tôi.
VOA: Vậy theo Tiến sĩ, Hoa Kỳ thua trong chiến tranh
Việt Nam là vì những lý do gì?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Phải khẳng định rằng không có sự
giúp đỡ đắc lực của Liên Xô và Trung Quốc thì khó có thể tưởng tượng nổi
Hà Nội đã có thể giành chiến thắng trước Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phương tiện
chiến tranh mà các lực lượng cộng sản Việt Nam nhận được từ hai cường
quốc cộng sản này chắc chắn không thể bì được với phương tiện chiến
tranh mà Hoa Kỳ sở hữu tại chiến trường cả về số lượng lẫn chất lượng.
Để nói rằng, sự giúp đỡ
mà Liên Xô và Trung Quốc đã dành cho Việt Nam trong cuộc chiến với Mỹ
là đặc biệt quan trọng nhưng rõ ràng không phải là nhân tố quyết định
chiến thắng của Việt Nam.
Tất nhiên không ai có thể sửa lại được lịch sử nhưng theo tôi, lẽ ra đã
không có chiến tranh Việt Nam và tất nhiên đã không có chuyện Hoa Kỳ
thua trận nếu như siêu cường quốc này đã không cố tình mắc sai lầm
trong đánh giá đối phương. Thực vậy, việc Hoa Kỳ bao cho Pháp đến 80%
chi phí quân sự vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần
thứ nhất rốt cuộc không cứu vãn nổi sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ
vào năm 1954 ngay từ lúc đó đã chứng tỏ ưu thế về phương tiện chiến
tranh không phải cái để bảo đảm chiến thắng trước những chiến binh Việt
Nam cộng sản.
Nói cách khác, lẽ ra chiến tranh Việt Nam đã có thể tránh được nếu như
trước đó Mỹ đã không ngộ nhận những người lính của Tướng Giáp là những
rô-bốt của Trung Quốc và Liên Xô, hay lính đánh thuê cho chủ nghĩa cộng
sản, nếu như Hoa Kỳ đã dụng công để hiểu người Việt.
VOA: Như vậy phải chăng ý Tiến sĩ muốn nói rằng muốn xử
lý quan hệ với Việt Nam, thì điều kiện tiên quyết là phải hiểu người Việt?
Nếu đúng vậy thì tại sao?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi tiến hành chiến tranh ở Việt
Nam, Hoa Kỳ đã quy những người cộng sản Việt Nam và những người ủng hộ
họ vào chủ nghĩa cộng sản, tức những người này được điều khiển bởi một
hệ tư tưởng duy nhất là chủ nghĩa cộng sản. Sai lầm chết người của Hoa
Kỳ chính là chỗ này: người Việt có hệ tư tưởng riêng của họ nên không
còn chỗ cho hệ tư tưởng khác, mà ở đây là chủ nghĩa cộng sản, trú ngụ.
Hiểu như thế thì chủ nghĩa cộng sản chỉ là phương tiện mà người Việt sử
dụng để phục vụ hệ tư tưởng riêng của mình.
Như vậy, Hoa Kỳ vào Việt Nam là để đánh chặn hệ tư tưởng cộng sản nhưng
thực tế lại phải giao chiến với hệ tư tưởng của người Việt, điều mà Hoa
Kỳ không hề tính tới trước khi lâm trận nên thất bại là tất yếu.
VOA: Ông vừa nói người Việt có một hệ tư tưởng, vậy hệ
tư tưởng đó là gì, thưa ông?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Việt Nam là một nước đa sắc tộc
và người Việt chiếm tới 90% dân số, do đó cái tên Việt được các triều đại
phong kiến Việt Nam dùng để chỉ cư dân và làm cơ sở để đặt tên nước như
Đại Cù Việt, Đại Việt rồi Việt Nam.
Người Việt hiện nay còn được gọi là người Kinh. Còn tại sao có cái tên
này thì chưa có nghiên cứu nào, từ điển nào đề cập. Nhưng theo tôi, cái
tên “Kinh” là đặt theo tên của Kinh Dương Vương, thủy tổ của người Việt
theo huyền sử và điều này chứng tỏ người Việt rất có ý thức về nguồn cội
của mình.
Như vậy, có thể nói dân tộc Việt Nam là một dân tộc thuần Việt suốt chiều
dài lịch sử và chính đặc điểm “thuần Việt” này đã hình thành cho người Việt
tư tưởng Một dân tộc, Một quốc gia hay Dân tộc đồng nhất với Quốc gia,
để từ đó đi đến nguyên lý bất di bất dịch: không thể có độc lập dân tộc
thực sự với một quốc gia bị chia cắt về lãnh thổ, hay độc lập dân tộc
phải gắn liền với thống nhất lãnh thổ quốc gia, thống nhất đất nước.
Cũng phải nói rõ rằng sự hình thành của người Việt miền Nam Việt Nam là
do di dân từ Bắc Việt Nam xuống. Thực vậy, năm 1611, Chúa Nguyễn Hoàng
là bề tôi Nhà Hậu Lê, đã từ Thuận Hoá, tức là Quảng Trị - Thừa Thiên -
Huế ngày nay, là nơi ông trấn thủ, thực hiện cuộc Nam tiến đầu tiên để
mở rộng bờ cõi Đại Việt xuống phía Nam.
Do đó, cái gốc Bắc của người Việt Miền Nam bản thân nó đã là một sự
kháng cự khủng khiếp chống lại mọi toan tính hay hành vi chia cắt miền
Nam khỏi miền Bắc.
Nhà
thơ Xuân Diệu, bác ruột và là cha nuôi tôi, trong cuộc diễn thuyết đầu tháng
12/1945 tại Hà Nội với tiêu đề không gì rõ hơn: “Miền Nam nước Việt và người
Việt Miền Nam” kêu gọi thanh niên Miền Bắc gia nhập các đội quân Nam tiến
để cùng “đồng bào” Nam bộ chống Pháp tái chiếm, đã nhắc tới cái đau đáu
nguồn cội của những người Việt theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam bằng những
câu thơ bất tử của Huỳnh Văn Nghệ: “Ai về Bắc ta theo với/Thăm lại non
sông giống Lạc Hồng/Từ độ mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất
Thăng Long”.
Tóm lại, hệ tư tưởng của người Việt là Việt Nam là một thể thống nhất
và vì vậy là sự phủ nhận chủ nghĩa ly khai. Tôi gọi hệ tư tưởng ấy của
người Việt là chủ nghĩa Nhất thể Việt, tạm dịch là Vietnamunism, tương
tự như chủ nghĩa Bài Ly Khai vậy.
Tôi cũng khẳng định rằng một dân tộc có hệ tư tưởng của riêng mình là bất
diệt.
VOA: Lịch sử Việt Nam là sự đan xen của các cuộc chiến
tranh vói nước ngoài và các cuộc nội chiến. Vậy liệu chủ nghĩa Nhất thể
Việt hay chủ nghĩa Bài Ly Khai của người Việt mà ông vừa nói tới liệu
có mâu thuẫn với các cuộc nội chiến không, thưa ông?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng là lịch sử Việt Nam không
chỉ gồm các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và vệ quốc. Thế
nhưng có một điều vô cùng đặc biệt và tưởng chừng mâu thuẫn là các cuộc
nội chiến lại không dẫn đến sự chia cắt lãnh thổ mà ngược lại, củng cố
sự thống nhất của quốc gia.
Thực vậy, các cuộc nội chiến đều nổ ra vào giai đoạn thoái trào của triều
đình đương thời như một sự tất yếu để bầu chọn người lãnh đạo mới của
quốc gia. Điều này là cốt tử đối với người Việt vì nếu không kịp thời
thay thế triều đình suy vi thì Việt Nam sẽ là miếng mồi ngon cho phong
kiến Trung Hoa. Nghĩa là “Nội chiến hay là Chết” trong bối cảnh Việt
Nam luôn bị nước lớn phương Bắc này rình rập thôn tính.
Tóm lại, cần xem nội chiến như chất kháng thể có sẵn trong cơ thể quốc
gia Việt Nam có chức năng can thiệp kịp thời để lành mạnh hoá cơ thể.
Cũng bởi đều nhằm tới sứ mạng quốc gia ấy nên không bên tham chiến nào
có ý đồ cát cứ, ly khai dẫn tới chia cắt lãnh thổ quốc gia. Nghĩa là “được
ăn cả, ngã về không” như cách nói dân gian và thỏa hiệp nếu có thì chỉ
là tạm thời.
Điển hình cho quyết tâm nội chiến để duy trì và củng cố sự thống nhất
quốc gia Việt Nam là Chúa Nguyễn Ánh. Sau khi đánh bại Chúa Trịnh rồi
Triều Tây Sơn trong cuộc nội chiến nổ ra khi Triều Lê mạt vận, Nguyễn
Ánh lên ngôi Hoàng đế và để chứng tỏ thống nhất đất nước là mục tiêu tối
thượng của cuộc chiến do ông tiến hành, đã ghép chữ đầu của Gia Định là
thủ phủ Miền Nam với chữ cuối của Thăng Long là kinh đô Nhà Lê ở Miền Bắc
để làm niên hiệu Gia Long.
Để nói thống nhất Bắc-Nam, thống nhất đất nước Việt Nam là vấn đề có
tính lịch sử, là yêu cầu tối thượng của hệ tư tưởng của người Việt hay
chủ nghĩa Nhất thể Việt và vì vậy là bất khả kháng. Do không hiểu được
người Việt như thế nên Hoa Kỳ đã can thiệp quân sự nhằm duy trì Vĩ tuyến
17 chia đôi Việt Nam và thất bại là cái giá phải trả.
VOA: Vậy theo Tiến sĩ, chiến tranh Việt Nam kết thúc
vào ngày 30/4/1975 là cuộc chiến của Hoa Kỳ hay là nội chiến giữa người
Việt với người Việt?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Theo tôi chiến tranh Việt Nam là
cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ được bắt đầu từ cuối cuộc chiến tranh của
Pháp tại Đông Dương khi Hoa Kỳ quyết định tài trợ 80% chi phí cho cuộc
chiến tranh này như đã đề cập. Tuy nhiên cuộc chiến tranh này của Hoa Kỳ
lại dẫn đến cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa những người Việt. Vì vậy
nói chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến là không sai nhưng đó chỉ
là một cuộc chiến trong một cuộc chiến khác, cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ
tiến hành.
Trên thực tế, giai đoạn sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam vào năm
1973 theo Hiệp định Paris được các chuyên gia quốc tế gọi là giai đoạn
“Việt nam hoá” chiến tranh của Hoa Kỳ.
Chính vì vậy tôi cho rằng ngày 30/4/1975 là
ngày kết thúc cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời cũng
là ngày kết thúc cuộc nội chiến giữa những người Việt.
VOA: Ông nghĩ sao về cách diễn đạt của ban lãnh đạo Đảng
cộng sản Việt Nam và nguyên cả bộ máy tuyên truyền cho rằng ngày 30/4/1975
là “Ngày giải phóng Miền Nam” ?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi nói “giải phóng Miền
Nam” thì không thể không xác định giải phóng Miền Nam khỏi ai, khỏi cái
gì.
Trước hết, chắc chắn không phải “giải phóng Miền Nam” khỏi sự chiếm
đóng của Hoa Kỳ vì ngày 30/4/1975 quân đội cộng sản nhận sự đầu hàng của
Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh, đó chưa kể Hoa Kỳ đã rút hết
quân khỏi Miền Nam từ năm 1973 theo Hiệp định Paris.
Vậy chỉ còn khả năng “giải phóng Miền Nam” khỏi chế độ tư bản, kẻ thù của
chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác – Lê nin. Tại thời điểm năm 1975 thì
đúng là như vậy do có sự ngộ nhận của một bộ phận những người cộng sản
Việt Nam, mà bằng chứng là các chiến dịch “cải tạo công thương nghiệp
tư doanh” và “tập thể hoá nông nghiệp” trên cơ sở quốc hữu hoá cơ sở sản
xuất, đất đai thuộc sở hữu tư nhân do chính quyền mới tiến hành ngay
sau đó.
Tuy nhiên tại thời điểm hiện nay thì quan niệm
đó chắc chắn không chỉ là lỗi thời mà còn là phản động theo đúng nghĩa
đen của từ này vì ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã công khai đi
theo con đường tư bản chủ nghĩa.
VOA: Ông có thể chứng minh điều này được không vì cho
đến thời gian gần đây, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố
kiên định với chủ nghĩa Xã hội?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Cốt lõi của chủ nghĩa xã hội
theo học thuyết Mác-Lê Nin là kinh tế Nhà nước chỉ huy hay kinh tế tập
trung, kinh tế tư nhân được coi là “bóc lột người” bị loại trừ. Thế nhưng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phá sản
tuyệt đối vào năm 1985 khi chính sách giá-lương-tiền của Chính phủ Việt
Nam gây lạm phát tới 900%, dẫn đến kinh tế tư nhân hay kinh tế thị trường
được Đảng cộng sản Việt Nam phục hồi tại Đại hội 6 của Đảng vào năm
sau, 1986.
Nhưng phải đến năm 1990 thì chủ nghĩa tư bản mới được chính danh bằng
Luật Công ty và doanh nghiệp tư nhân. Và Đại hội 10 của đảng Cộng sản
Việt Nam diễn ra cách đây 4 năm đã hoàn tất công cuộc phá bỏ chủ nghĩa xã
hội bằng cách chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân.
Ngoài ra, hai giai cấp được đảng Cộng sản Việt
Nam coi là nòng cốt xây dựng chủ nghĩa xã hội và là đối tượng được hưởng
sự chăm sóc đặc biệt của chế độ này là công nhân và nông dân, Búa và Liềm
ấy, hiện nay trên thực tế lại thuộc những người cùng khổ của xã hội, tựa
những gì mà Nguyễn Ái Quốc đã mô tả cách đây 90 năm trong báo Le Paria
- Người cùng khổ.
Thực vậy, ở nhiều địa phương công nhân bị bóc
lột và bị xúc phạm nhân phẩm thậm tệ, không có quyền đình công trên thực
tế, còn nông dân thì bị chính quyền công nhiên chiếm đoạt đất đai, nguồn
sống có thể nói là duy nhất của họ.
VOA: Nếu vậy tại sao ban lãnh đạo đảng Cộng sản
Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lê
nin, thưa ông?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Sở dĩ
có chuyện ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam nói một đằng, làm một nẻo
là vì họ sợ mất quyền lợi của bản thân. Thực vậy, nếu chính thức tuyên
bố từ bỏ chủ nghĩa xã hội thì Đảng cộng sản Việt Nam sẽ mất độc quyền
lãnh đạo đất nước trong khi quyền lực lại là phương tiện làm giàu của đại
đa số đảng viên có chức vụ.
Tóm lại, việc duy trì cho Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo đất
nước không gì khác hơn là để phục vụ lợi ích phi pháp của một nhóm nhỏ
trong Đảng cộng sản Việt Nam, đi ngược lại lợi ích của tuyệt đại đa số
nhân dân trong đó có hàng triệu đảng viên cộng sản và vì vậy quyết
không thể kéo dài hơn được nữa!
Do đó, để tránh cho ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam một sự sụp đổ
như đã diễn ra với các chính thể cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, thậm
chí tồi tệ hơn rất nhiều vì hành xử của tuyệt đại đa số quần chúng nhân
dân đáng tiếc là vẫn đậm chất nông dân theo đó cách mạng đồng nghĩa với
trả thù, phục hận, cách duy nhất là mau chóng thực hiện chế độ đa đảng,
điều mà Hiến pháp Việt Nam chưa bao giờ cấm và bản thân Hồ Chí Minh người
sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam đã chủ trương và thực hiện.
VOA: Nghĩa là Tiến sĩ cho rằng cách diễn đạt “Ngày giải
phóng Miền Nam” theo ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam và bộ máy
tuyên truyền bây giờ là không đúng?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng như vậy và vì thế cần
phải bỏ. Đó là chưa kể cách diễn đạt này dễ bị diễn giải thành “Miền Bắc
thôn tính Miền Nam” và trong trường hợp đó lại trở thành mầm mống gây
chia rẽ Bắc – Nam không chỉ trong nhân dân mà trước hết và ngay trong
chính nội bộ những người cộng sản.
Mặt khác, không thể nào thực hiện được hoà hợp, hoà giải với những người
Việt bên kia chiến tuyến như Nhà nước cộng sản Việt Nam chủ trương nếu
Nhà nước này vẫn duy trì cách diễn đạt mang đậm chất “thắng – thua” như
trên.
Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận tính lịch sử của ngày 30/4/1975 vì đó
là ngày đất nước Việt Nam thống nhất sau 30 năm chiến tranh, độc lập
dân tộc được Chính phủ Hồ Chí Minh mà phụ thân tôi, Cù Huy Cận là bộ
trưởng thành viên, tuyên ngày 2/9/1945 đến lúc đó mới thực sự trọn vẹn.
So với những nước khác cũng bị Chiến tranh lạnh chia cắt thì đó dứt
khoát là một kỳ tích của người Việt Nam. Thực vậy, mãi 14 năm sau bức
tường Berlin mới sụp đổ còn bán đảo Triều Tiên thì chưa biết khi nào mới
có thể chứng kiến Bàn Môn Điếm được tháo dỡ. Hoàn cảnh Trung Quốc và
Đài Loan tuy có khác đôi chút, nhưng cũng vậy, chưa biết bao giờ mới chung
một màu cờ.
Do đó “Ngày thống nhất đất nước” theo tôi là thích hợp nhất để diễn đạt
ngày 30/4/1975 và cũng là trung thành với nguyên lý “Độc lập dân tộc gắn
liền với thống nhất đất nước” của chủ nghĩa Nhất thể Việt hay hệ tư tưởng
của người Việt.
VOA: Chúng tôi được biết vào tháng 3 vừa qua, Tiến sĩ
có gửi lãnh đạo Nhà nước Việt Nam kiến nghị xây Đài tưởng niệm chung
cho các chiến sĩ hy sinh trong chiến đấu bảo vệ Hoàng sa và Trường Sa,
trong đó ông đề nghị tôn vinh các quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa
đã hy sinh bằng cách công nhận họ là liệt sĩ. Xin ông cho biết mục đích
khi ông đã đưa ra sáng kiến này?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Thực lòng khi đưa ra Kiến nghị
tôi không nhằm bất cứ mục đích chính trị nào mà chỉ đơn giản nghĩ rằng
tất cả những ai đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
đều có quyền được Nhà nước thay mặt nhân dân Việt Nam tri ân và tri ân một
cách xứng đáng.
Trừ những kẻ phản bội Tổ quốc Việt Nam, không ai có quyền tước đoạt cái
quyền thiêng liêng ấy của những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã ngã xuống
trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng sa, lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam.
Tất nhiên khi Kiến nghị này được Nhà nước Việt Nam nghiêm túc thực hiện
thì đó sẽ là sự khởi đầu quan trọng cho hòa hợp, hoà giải giữa những
người Việt từng ở hai bờ chiến tuyến.
Nhưng để có được hoà hợp, hoà giải dân tộc thực sự và bền vững thì Nhà
nước Việt Nam phải thay đổi căn bản tư duy về vấn đề này.
VOA: Ông có thể nói rõ hơn về chuyện thay đổi căn bản
tư duy này, chẳng hạn thay đổi như thế nào, thưa Tiến sĩ?
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoà hợp, hoà giải dân tộc là xuất
phát từ lợi ích chung, lợi ích quốc gia nên dứt khoát không phải là sự
ban phát của nhà cầm quyền mà phía bên kia là kẻ chịu ơn, không
phải là sự tha thứ, khoan dung dành cho những đứa con hư biết hối lỗi
như cách Nhà nước Việt Nam thể hiện bấy lâu nay.
Hoà hợp, hoà giải dân tộc là biết tôn trọng và
tốt hơn nữa, biết nhân nhượng những quan điểm chính trị khác biệt, kể cả
đối lập để phụng sự Tổ quốc Việt Nam một cách tốt nhất, hiệu quả nhất.
Nói cách khác, hoà hợp, hoà giải dân tộc là chấp nhận chung sống của
các quan điểm chính trị khác biệt
Cần lưu ý rằng chính sách đoàn kết toàn dân tộc mà Nhà nước Việt Nam luôn
đề cao trước hết phải là đoàn kết chính trị, tức đoàn kết các quan điểm
chính trị khác biệt bởi nếu cùng chính kiến thì cần gì phải đoàn kết.
Tổ quốc Việt Nam không của riêng ai và vì vậy sẽ là có tội nếu Nhà nước
Việt Nam chần chừ hoặc tồi tệ hơn, không thực tâm thực hiện hoà hợp,
hoà giải dân tộc để mọi người Việt bất luận chính kiến đều có cơ hội cứu
nước trước nguy cơ Trung Quốc xâm lược Trường Sa nói riêng, lãnh thổ Việt
Nam nói chung, rõ ràng hơn bao giờ hết!
Nhân đây một lần nữa tôi kêu gọi ban lãnh đạo
Đảng cộng sản Việt Nam mau chóng thực hiện chế độ đa đảng ở Việt Nam bởi
nếu không, Hoà hợp, hoà giải dân tộc sẽ lại trở thành Lừa dối dân tộc với
hậu họa đã có thể nhìn thấy trước.
VOA: Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ về sự chân thành
và thẳng thắn cũng như thời gian mà ông đã dành cho chúng tôi trong cuộc
phỏng vấn này.
Trích: VOA 29.4
|