|
|
DC&PT - Thời
Sự 2010
Đại hội 11 đi về đâu và phục vụ
ai ?
Nhân dịp trước Hội nghị Trung ương 13
Đặt thẳng vấn đề với ông Nguyễn Phú Trọng:
Cương lĩnh Chính trị 2011 sẽ như thế ?
* Kéo dài „thời kì quá độ“ là tiếp tục đêm
dài của bạo lực và đàn áp !
* Giành độc quyền cho Doanh nghiệp nhà nước là khuyến khích tham
nhũng lên ngôi vua !
* Nguy cơ mất nước vì tâm lí tự ti và thái độ hèn nhát cúi đầu cầu
vinh của nhóm lãnh đạo !
* Mọi tệ trạng văn hóa-xã hội và vấn nạn mất nước có thủ phạm là
nhóm lãnh đạo vô đức,
bất tài đang núp dưới
bóng đảng độc tài !
Âu Dương Thệ
Để chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 13 hôm nay Bộ
chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã cho công bố ba Dự thảo văn kiện chính
của Đại hội 11 sẽ được triệu tập vào đầu tháng 1.2011. Trong số này có „Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì
quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)“*. Dưới
đây được gọi tắt là Cương lĩnh Chính trị 2011. Hội nghị Trung
ương 13 là một trong vài hội nghị cuối cùng để chuẩn bị cho Đại hội 11.
Vì thế Hội nghị này rất quan trọng, không chỉ bàn đề án nhân sự cho các
cơ quan cao nhất của Đảng (Tổng bí thư, Bộ chính trị, Ban bí thư, Nhà nước
(Chủ tịch nước, Thủ tướng) và Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội). Hội nghị
Trung ương 13 còn chuẩn bị để thông qua Cương lĩnh Chính trị cho giai đoạn
từ 2011 trở đi. Như vậy cả hai vấn đề nhân sự và đường lối có tính cách
dài hạn ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của gần 90 triệu dân và quyền lợi
của đất nước trong các thập niên tới đang được một nhóm nhỏ người có quyền
lực nhất trong chế độ độc tài toàn trị quyết định độc đoán. Nếu họ đưa ra
để „xin ý kiến của nhân dân“
cũng chỉ là cách cho ăn bánh vẽ, một thủ đoạn đã từng được lập đi lập lại
bao nhiêu lần!
Đúng ra Cương lĩnh Chính trị 2011 đóng vai trò quan
trọng phải được phân tích, vì nó qui định sinh hoạt đời sống chính trị của
VN trong các thập niên tới. Nhưng ai đọc qua nó sẽ thấy nó cũ như trái đất!
Cho nên điều cần phân tích và bàn ở đây không phải là Cương lĩnh Chính trị
2011, nhưng chính là lời hướng dẫn giải thích của chính tác giả văn kiện
này, tức là Ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội và „Phó Trưởng Tiểu ban Thường trực Tiểu ban Cương lĩnh và
Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XI“, một người được coi là đang có
thế mạnh và còn tính leo cao hơn. Trước đó ngày 5. 9
ông Trọng, giữa khi đang đi thăm
Canada và Cuba đã cho phổ biến rộng rãi trên nhiều cơ quan báo chí của chế
độ bài „Những
định hướng bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 „* giải thích một số bổ túc
Cương lĩnh Chính trị 1991 để làm cơ sở cho tư tưởng chính trị của Đảng Cộng
sản VN và Nhà nước của đảng này trong các thập niên tới.
Nhưng quan trọng hơn nữa, vào đầu tháng 5 những sự
giải thích trong bài trên đã được Nguyễn Phú Trọng lí giải và nhiệt tâm
bênh vực trong bài „Sự
phát triển nhận thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay „* đã được phổ biến trên tờ Nhân dân và
Tạp chí Cộng sản số tháng 5.2010. Hiện nay bài này đã trở thành văn kiện
chính thức quan trọng để cho các Ủy viên Trung ương đảng dùng vào việc học
tập chuẩn bị cho Đại hội 11 vào đầu tháng 1. 2011. Trong các tháng vừa
qua Bộ chính trị và Ban Tuyên giáo trung ương đã xếp bài trên là một tài
liệu chính trị quan trọng dùng trong các hội nghị đảng bộ thành phố, tỉnh
và các Ban trung ương. Nhưng đặc
biệt hơn nữa, việc này cũng giải thích thế mạnh hiện nay của Nguyễn Phú
Trọng ở trong Bộ chính trị. Ngoài tư cách là Chủ tịch Quốc hội, như đã
nói ở trên, ông Trọng cũng đang kiêm nhiệm một số chức vụ then chốt trong
việc chuẩn bị Đại hội 11, đó là „„Phó Trưởng
Tiểu ban Thường trực Tiểu ban Cương lĩnh và Báo cáo Chính trị tại Đại hội
lần thứ XI“. Trong thực tế
ông Trọng mới là người chính soạn thảo hai văn kiện quan trọng nhất cho Đại hội 11 là Cương lĩnh Chính
trị 2011 và Báo cáo Chính trị của Đại hôi 11. Nông Đức Mạnh đứng chỉ làm
vì . (Xem Âu Dương Thệ, Hội nghị Trung ương 12:Đại hội 11 phục vụ ai?,
trong www.dcpt.org)
Trong những ngày gần đây có những dấu hiệu còn cho
thấy, những người có thế lực trong và ngoài Bộ chính trị đang ủng hộ cuộc
vận động vừa công khai vừa âm thầm để „leo
cao, ngồi lâu“ của ông Trọng và vây cánh: Sau việc dàn dựng
vở tuồng để Quốc hội „bác“ Siêu dự án đường sắt cao tốc (19.6) uy tín của
ông Trọng trong Đảng đã „leo cao“. Ngày 21.6 ông xuất hiện như cái đinh chính
trong lễ Kỉ niệm 85 „Ngày Báo chí Cách mạng“ và cũng
chính ông trao Huân chương Sao vàng (huân chương cao nhất của chế độ) cho
báo chí. Như vậy là ông đã thay vai trò của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.
Quan trọng hơn nữa, vài ngày sau Nguyễn Phú Trọng còn là người chủ trì tại
„Đại hội Thị đua Quyết thắng toàn
quân lần thứ VIII“ ngày 29.6 và ra huấn thị cho quân đội. Nghĩa là
ông đảm nhận cả vai trò Bí thư Quân ủy Trung ương của Tổng bí thư Nông Đức
Mạnh. Trong buổi lễ này ngoài Bộ trưởng Quốc phòng Đại tướng Phùng Quang
Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Đại tướng Lê Văn Dũng, còn có sự hiện
diện của của Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu, cả hai rất thần phục Bắc kinh.
Như vậy hiện nay chỉ còn vài tháng trước Đại hội 11 ông Trọng được coi là
người đang có quyền lực rất lớn trong Bộ chính trị. Cuộc vận động của ông
Trọng và vây cánh để „leo cao hơn, ngồi lâu hơn“ tại Đại hội 11
cho tới thời điểm này dường như đang như diều gặp gió!
Bài này sẽ phân tích và nhận định về mục tiêu, hướng
đi và chính sách dài hạn của nhóm lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay
đang dự tính thực hiện trong việc soạn thảo Cương lĩnh Chính trị 2011
thay thế cho Cương lĩnh Chính trị 1991. Người đứng đầu trực tiếp soạn thảo
văn kiện chính trị này chính là Nguyễn Phú Trọng. Ngoài các chức vụ then
chốt ông đang nắm giữ trong Đảng và Quốc hội, trước đây ông Trọng đã từng
là Bí thư thành ủy Hà nội, Chủ tịch Hội đồng Lí luận trung ương và một
trong những người đồng sáng lập các „Hội nghị Lí
luận“ giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Trung quốc.
Chính ông Trọng đã là Trưởng phái đoàn đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong các cuộc Hội thảo về lí luận và đường lối với Đảng Cộng sản
Trung quốc.
* * *
Nếu là cương lĩnh của một nhóm chính trị nào đó thì
không cần bàn. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đang độc quyền chính trị ở VN
trong nhiều thập niên qua và ông Trọng còn có tham vọng để nó giữ độc quyền
lâu dài nên đã gắn cho nó cái tên „Đảng cầm quyền“. Trong bài “Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ
Cương lĩnh năm 1991 đến nay” ông Trọng
đã nêu ra một số định đề lớn, rất quan trọng, sẽ được dùng làm nền tảng
cho Cương lĩnh Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn từ
nay tới 20-30 năm tới, được gọi là Cương lĩnh Chính trị 2011. Khi đọc bài trên
người ta thấy rất rõ bức tranh vẽ về VN trong các thập kỉ tới của Nguyễn
Phú Trọng như thế nào, có khác với bức tranh vân cẩu của giai đoạn đã
qua, hay vẫn tiếp nối con đường ảm đạm, tang thương và hoang dã ? Nói một
cách hình tượng theo cựu Đại sứ và nhà nghiên cứu Nguyễn Trung vừa viết một
luận thuyết rất có giá trị gởi tới Đại hội 11 cho nhóm cầm đầu chế độ, cũng như các trí thức, nhân
sĩ và những ai đang trăn trở về vận mệnh dân tộc : „Nếu biết cái đích đi tới được sau 35 năm độc lập thống
nhất là thực trạng mọi mặt đất nước như hôm nay, liệu dân tộc ta trước
đây có dám hy sinh chiến đấu hết thế hệ này đến thế hệ khác như vậy dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hay không?“ (Góp
ý kiến Đại hội XI: Trách nhiệm lịch sử). Câu hỏi rất nghiêm túc này cần phải đặt
ra ngay lúc này chứ không thể để 20 – 30 năm sau e rằng quá muộn! Tại
sao?
Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đang độc quyền cai
trị đất nước; cho nên mọi quan điểm, đường lối và quyết định của nhóm
lãnh đạo Đảng này sẽ ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài tới quyền lợi và sinh
mạng của gần 90 triệu người VN và vận mệnh của dân tộc. Như thế đây là một
vấn đề rất hệ trọng và cực kì cấp bách, vì Đại hội 11 sẽ được triệu tập
vào vài tháng nữa. Đề án nhân sự trong Bộ chính trị mới đang được thành
hình, trong đó ông Trọng và một số người thân tín đang rốt ráo vận động cả
trong Đảng lẫn bên ngoài bằng nhiều mánh khóe và thủ đoạn rất xấu để sẽ
có thể đóng vai trò rất quan trọng từ trong Đảng đến chính quyền.
Nguyễn Phú Trọng đang là „nhân vật mạnh“ trong chế độ
độc tài toàn trị, cho nên những quan điểm và chủ trương của ông sẽ chi phối
trực tiếp tới quyền lợi và sinh mạng của gần 90 triệu người VN và ảnh hưởng
trưc tiếp tới tương lai của đất nước trong một thời gian dài. Vì vậy những quan điểm, tư tưởng, thái độ, tư cách và
cả khả năng của ông Nguyễn Phú Trọng cần phải được đặt lên bàn thảo luận
công khai và dân chủ. Đây là một quyền đồng thời cũng là trách nhiệm của
bất cứ một công dân nào có ý thức.
Trong bài “Sự phát triển
nhận thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay” Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra
6 định đề chính về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, pháp luật,
vai trò của Đảng Cộng sản và cấu
trúc toàn bộ xã hội: 1. Quá
độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức
tạp. 2. Phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 3. Văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội. 4. Giữ vững môi trường hòa bình, độc lập tự chủ, tích cực và chủ
động hội nhập quốc tế 5. Phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. 6. Ðảng
Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc.
Dưới đây người viết
sẽ phân tích các định đề này đồng thời so sánh với tình hình thực tế của
VN hiện nay để nêu thẳng ra những câu hỏi yêu cầu ông Nguyễn Phú Trọng trả
lời công khai.
Nhắm mắt
sao chụp nguyên bản tại sao lại vẫn bảo là „trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn“?
„Thời kì quá độ“ bao
trùm bạo lực, vô nhân còn muốn kéo dài tới bao giờ ?
Trong
phần „Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự
nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp“, ngay phần đầu
ông Trọng đã khẳng định: „Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh
cách mạng, Ðảng ta luôn khẳng định, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng
của Ðảng và nhân dân ta; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan,
là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.“ Nhưng liền đó Nguyễn Phú Trọng
đã xác nhận: „Tuy nhiên, chủ
nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Ðó là điều
mà Ðảng ta luôn luôn trăn trở, suy
nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa
phù hợp với điều kiện, đặc điểm cụ thể của nước ta.“
Một
người không biết cái đó là cái gì, nhưng cũng cứ đút vào miệng ăn. Một
người không biết vực thẳm là gì mà vẫn lao đầu đi tới…Vậy là người khờ dại
hay khôn ngoan? Lãnh đạo một chính đảng không biết „Chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên Chủ nghĩa Xã hội bằng cách nào“,
nhưng vẫn khăng khăng bảo rằng „Chủ
nghĩa Xã hội là mục tiêu, lý tưởng“ của mình, không những thế còn cưỡng
bách gần 90 triệu nhân dân cả nước phải tuân theo suốt gần 6 thập kỉ. Xin hỏi ông
Trọng, những người lãnh đạo đảng đó - trong ấy có ông- thông minh hay mù
quáng cuồng tín, dân chủ hay độc tài?
Nguyễn
Phú Trọng cũng còn khẳng định rằng, vì không biết „Chủ nghĩa Xã hội là gì và đi lên Chủ nghĩa Xã hội bằng cách nào“
cho nên trong hơn nửa thế kỉ qua „Ðảng
ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để
làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện, đặc điểm
cụ thể của nước ta.“ Là lí thuyết gia của Đảng và nắm vững lịch sử 80
năm phát triển của Đảng, ông Trọng hãy tạm gác vai trò Ủy vên Bộ chính trị
qua một bên và thử giữ tư cách khách quan và nghiêm túc của một người làm
khoa học để xem có thực là, từ khi Đảng Cộng
sản Việt Nam cầm quyền tới nay mỗi khi ban hành một chính sách mới liên hệ
tới cuộc sống của bao nhiêu triệu nhân dân và tương lai của đất nước các
ban lãnh đạo Cộng sản Việt Nam có thực „trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn“ không?
Căn
cứ trên những dữ kiện lịch sử, ông Trọng hãy trả lời thành thực trước dư
luận: Các người lãnh đạo trước đây và hiện nay từ khi cầm quyền ở miền Bắc
vào giữa thập niên 50 của thế kỉ trước và từ 1975 trên cả nước tới nay có
„trăn trở,
suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn“ mô hình Chủ nghĩa Xã hội nào
thích hợp và cách hành xử quyền lực nào phù hợp cho điều kiện của VN
không, hay chỉ ngu muội và cuồng tín sao chép một cách máy móc của bên
ngoài hoàn toàn trái với đạo lí, phong tục, tâm hồn của người Việt và điều
kiện kinh tế, chính trị của VN?
Ai
đã cuồng tín từ thập niên 20-30 của thế kỉ trước từng coi con đường của
Lenin là bửu bối, là đũa thần cho cách mạng VN? Vì một khi đã coi một cái
gì đó là „bửu bối, đũa thần“ rồi
thì cứ nhắm mắt áp dụng ở bất cứ nơi nào nó cũng giải quyết được các khó
khăn. Ai đã từng ẩn náu trong các chùa khi hoạt động cách mạng, nhưng khi
cướp được chính quyền thì thực hiện khẩu hiệu „Tôn
giáo là phuốc phiện“ của Lenin để đàn áp, chia rẽ tôn giáo
và đày ải các nhà tu hành suốt trên nửa thế kỉ qua? Những ai đã du nhập
và thẳng tay phát động phong trào „Đấu tố địa
chủ“ sao chép nguyên bản của Mao Trạch Đông để giết hại
hàng trăm ngàn nông dân, đồng thời loại trừ hàng chục ngàn đảng viên có
công, chỉ vì họ có lí lịch là con của địa chủ phú hào vào giữa thập niên
50 của thế kỉ trước? Cũng vào thời gian đó ai đã phát động phong trào „Trăm hoa đua nở“ sao chép nguyên bản của
nhà độc tài tàn bạo Mao Trạch Đông cho áp dụng ở miền Bắc để đàn áp và tù
đày trí thức, chuyên viên, nhà báo và các văn nghệ sĩ dám nói lên những
tư tưởng độc lập và phê bình những chủ trương độc tài tàn bạo và sai trái
của nhóm cầm quyền? Song song vào đó, ai đã đào tạo những người viết báo,
viết văn chỉ biết uốn cong ngòi bút, phải ngoan ngoãn đi vào „lề phải“, tô hồng chế độ, nịnh bợ lãnh
đạo? Hậu quả của chính sách ngu dân này là cho tới nay suốt gần 60 năm cầm
quyền VN không có một tác phẩm văn
học, nghệ thuật và khoa học nào xuất chúng trong văn chương và khoa học
thế giới. Trước đây dân tộc VN từng có những văn nhân, thi sĩ, nhà tư tưởng
và các sáng tác văn học, tư tưởng xuất chúng.
Trong lịch sử
mấy ngàn năm của dân tộc ta, vào thời kì phong kiến đã có một số bạo
chúa, nhưng chưa có một thời đại nào mà người cầm quyền lại bạo ngược và
tàn nhẫn khủng khiếp, có thể nói là phi nhân với chính người dân của mình
như dưới thời Cộng sản!
Từ
cuối thập niên 50 của thế kỉ trước ở miền Bắc và sau 1975 ở cả miền Nam,
ai là người đã sao chép máy móc
các phương thức „kinh tế tập
thể“ trong nông nghiệp của Stalin và Mao, cưỡng bách mấy
chục triệu nông dân VN phải gia nhập các hợp tác xã nông nghiệp? Kết quả
của chính sách độc tài phản động và không phù hợp với nông dân VN là nạn
đói đã đe dọa cả nước vào thập niên 80 của thế kỉ trước! Ai là người đã
sao chụp chính sách „doanh nghiệp
quốc doanh“ của Liên xô (cũ) vào VN và phá sạch „tư sản mại bản“ ở miền Nam sau 1975
đưa đến kết quả khốc hại là làm cho kinh tế VN lụn bại và tụt hậu so với
hầu hết các nước trong khu vực ?
Sao chép mù quáng các mô hình Chủ nghĩa Xã hội của bên
ngoài và sự ngu dốt của giới lãnh đạo đã dẫn tới áp dụng một cách cuồng
tín suốt bao nhiêu thập niên như thế, tại sao Nguyễn Phú Trọng một lí
thuyết gia của Đảng nay lại vẫn mở miệng nói càn là, „Ðảng ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn
để làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện, đặc điểm
cụ thể của nước ta“ được? Đây là những sự kiện chính trị có thực đã
diễn ra, tại sao ông Trọng lại vẫn phủ nhận ?
Sau
khi Liên xô - thành trì của thế giới Cộng sản và điểm tựa mà các Ông từng
quả quyết là „vững chắc“ của chế độ Cộng sản Việt Nam -
sụp đổ vào đầu thập niên 90, lúc đó các Ông đã lo sợ cuống cuồng, để tự cứu nên đã phải từ bỏ mô hình Xã
hội Chủ nghĩa sơ cứng và vội vàng chụp giựt đường lối cải cách của Đặng
Tiểu Bình của Đảng Cộng sản Trung quốc được thực hiện ở Trung quốc từ
1978. Các Ông chỉ đổi cái tên „cải cách“ thành „đổi mới“ mà thôi, trong đó
quan trọng nhất là du nhập đường lối kinh tế tư bản nhưng Đảng Cộng sản vẫn
giữ độc quyền. Nhiều năm là lí thuyết gia và Chủ tịch Hội đồng Lí luận
Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam và từng cầm đầu các phái đoàn VN
tham dự các cuộc hội thảo về lí luận và đường lối với Đảng Cộng sản Trung
quốc chắc chắn ông Trọng phải biết rõ việc này. Nhưng tại sao trong bài
nói trên ông Trọng dám khẳng định là „khái niệm
Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa là một đột phá lí luận rất
cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lí luận quan trọng qua 20
năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991.“ ? Chả lẽ Ông đã „lú“ như lời truyền miệng của
người dân trong nước, hay Ông đã đánh lừa và gian dối với đảng viên và
nhân dân? Nếu quả thực mắc bệnh lú, bệnh hay quên thì Ông không còn đủ
năng lực sức khỏe để làm người lãnh đạo VN. Còn nếu đánh lừa và gian đối
với nhân dân thì Ông không đủ tư cách đạo đức tiếp tục làm lãnh tụ, thế
mà tại sao không tự xét lại còn đang tìm cách „leo cao hơn, ngồi lâu hơn“!
Những
sao chụp rất máy móc các mô hình sơ cứng Xã hội Chủ nghĩa của cựu Liên xô và Trung quốc trong chính
trị, kinh tế và trong cách đối xử vô cùng tàn bạo với nông dân, trí thức,
tôn giáo và các đoàn thể chính trị trong suốt gần 60 năm qua rõ ràng như
thế mà tại sao ông Trọng lại tự vỗ ngực
„Ðảng
ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ,
tìm tòi, lựa chọn để làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp
với điều kiện, đặc điểm cụ thể của nước ta.“ ! Mọi người
đều biết sự sao chụp máy móc này bắt nguồn từ sự ngu dốt và bệnh cuồng
tín của nhóm cầm đầu chế độ toàn trị đã nhắm mắt cho thi hành ở VN bất kể
tới đạo lí, phong tục và các điều kiện chính trị-kinh tế đặc thù của VN. Nhưng mỗi
khi phát động một phong trào mới hay một chính sách mới sao chép của Trung quốc hay Liên xô cũ, họ đều
huyênh hoang khoác lác nói là đường lối sáng tạo, đúng đắn để bịt miệng
và cấm đoán mọi sự phản biện và tiêu giệt những ai dám chống lại.
Nếu
là một nhà lãnh đạo có tư cách, thành thực và dám vượt qua cái bóng của
mình thì ông Trọng phải kết án
nghiêm khắc các chính sách trên là sao chép mù quáng, thiển cận và vô
trách nhiệm, đồng thời phải nêu đích danh những người có trách nhiệm, chứ
không được phép im lặng hoặc nói chung chung vô thưởng vô phạt như „đơn giản, ấu trĩ“. Là người đang đứng đầu cơ quan lập
pháp tất ông Trọng phải biết, bất cứ một hành động vi phạm pháp luật nào
cũng phải có thủ phạm và thủ phạm phải bị trừng trị nghiêm minh. Như thế
chả lẽ những hành động giết hại hàng trăm ngàn người, bỏ tù và đày đi cải
tạo hàng triệu người lại không có thủ phạm, chẳng lẽ trời làm!
Nhưng Nguyễn
Phú Trọng trong tư cách là Chủ tịch Quốc hội –cơ quan quyền lực cao nhất
của nước- đã không thành tâm xin lỗi, không can đảm công khai gởi lời
chia buồn sâu sắc tới các gia đình và con cháu của hàng triệu nạn nhân vô
tội đã bị giết hại, giam cầm và nhục mạ vì bệnh cuồng tín và ngu dốt của
nhóm cầm đầu chế độ độc tài toàn trị. Một sự im lặng hèn nhát thật đáng
kinh bỉ đã kéo dài gần 6 thập niên ! Chẳng những thế ông Trọng lại vẫn cố
ý bênh vực và lên giọng đạo đức và tự tâng bốc là sáng suốt !
Vào
cuối phần 1 Nguyễn Phú Trọng còn đưa ra một bức tranh vẽ rất đẹp các mục
tiêu cho nhân dân và đất nước mà ai cũng đã từng nghe cả hàng chục ngàn lần.
Sau khi vẽ bức tranh về một „thiên
đàng chính trị“, „niết bàn chính trị“, ông Trọng đã nhìn nhận là chưa biết bao giờ
tới được, vì hiện nay vẫn còn ở trong „giai
đoạn quá độ“. Nhưng ông Trọng lại tự mâu thuẫn khi vội vã
khẳng định là, muốn thực hiện các mục tiêu này thì chỉ có Đảng Cộng sản mới
làm được và theo Logik của Ông, nhân dân và đất nước phải tiếp tục „dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản“. Tiếp đó ông còn khuyên mọi người phải
kiên nhẫn, vì hiện nay đất nước còn trong thời kì quá độ và „quá độ lên
Chủ nghĩa Xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp“.
Trước đây gần một thế kỉ ở cựu Liên xô Lenin và
Stalin đã từng nói tới „thời kì quá
độ lên Chủ nghĩa Xã hội“ và hứa là thời kì quá độ sẽ sớm kết thúc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam cầm
quyền gần 60 năm nay cũng nhai lại luận điểm và niềm tin này. Ông Trọng
biết rất rõ luận điểm này. Nhưng
nay Liên xô đã tan, thế giới Cộng sản đã sụp, vậy tại sao ông Trọng lại vẫn
nhắc tới một chuyện không tưởng như vậy được và lại còn lên mặt khuyên mọi
người phải kiên tâm làm việc để đến một ngày nào đó sẽ tiến lên xã hội Cộng
sản không còn người bóc lột người, một thế giới đại đồng bốn bể đều là
anh em? Nhưng để lên được cái thế giới (không tưởng) đó ông Trọng khuyên
mọi người phải theo Đảng Cộng sản. Nghĩa là cứ để ta độc tôn cầm quyền tiếp
tục rồi sẽ có một ngày….!!!
Một
số tôn giáo đã nói tới Niết bàn hay Thiên đàng để chỉ sự hạnh phúc vĩnh cửu,
đó là niềm của tôn giáo, tin hay không tin là quyền của mỗi người, không
ai bị cưỡng bách phải tuân theo. Nhưng người làm
chính trị không được phép lầm lẫn chính trị với tôn giáo. Nhiệm vụ của
chính trị, tức là các chính quyền, các chính đảng, đặc biệt là đảng đang
cầm quyền phải giải quyết các nhu cầu và cải thiện các điều kiện sống trước
mắt về vật chất lẫn tinh thần của người dân và đất nước. Nếu không giải
quyết được ổn thỏa các nhu cầu chính đáng này thì tự đánh mất vai trò
lãnh đạo, khi đó cách tốt nhất là phải trả lại quyền cho nhân dân tự quyết
định.
Nhân dân VN không biết xã hội Cộng sản (nếu
có) có phải là thiên đàng chính trị
hay không. Nhưng trong cuộc sống
hàng ngày gần 90 triệu dân VN đang phải chịu đựng những đàn áp về tinh thần,
các quyền tự do căn bản bị tước sạch; mọi thành phần đang bị bịt mắt, bịt
miệng và bịt tai; ai chống đối thì bị quẳng vào nhà tù. Không những thế,
đại đa số nông dân và công nhân vẫn phải chịu đựng trong cảnh đói nghèo
và bị bóc lột không khác thời thực dân ở đầu thế kỉ trước. Rõ ràng thời
kì quá độ gần 60 năm qua của Chủ nghĩa Xã hội cũng chính là thời kì VN biến
thành trại giam khổng lồ, là địa ngục trần gian, là tụt hậu và nghèo đói.
Trong đó bọn đao phủ và bọn bóc lột chính là các Ủy viên Bộ chính trị!
Nay Nguyễn Phú Trọng lại hô hào tiếp tục luẩn quẩn
trong „giai đoạn quá độ dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản“ là
giam cầm thể xác và tinh thần nhân dân tiếp tục, là đẩy đất nước càng rơi
sâu vào tụt hậu và đói nghèo, là để cho chủ nghĩa cuồng tín, ngu dốt và
cái ác thống trị xã hội !
Tại sao ông Trọng không dám dứt khoát đoạn tuyệt với
con đường sai lầm và độc ác mà nhiều nước Cộng sản Đông Âu đã dám vượt
qua và đang đưa dân tộc họ thực sự giầu mạnh và hạnh phúc? Các đảng Cộng
sản này đã sáng suốt nhận ra được là đã đi ngược chiều bước tiến văn minh
của nhân loại, nên họ đã dám có can đảm làm quyết định “đằng sau quay” để „hòa nhập vào dòng chảy tự nhiên của nhân loại“. Mới đây ông
Hà Sĩ Phu, một tư tưởng gia và nhân sĩ dân chủ mặc dù đang bị chế độ độc
tài toàn trị khủng bố, đã thành thực khuyên những người cầm đầu Cộng sản
VN cũng nên và cần phải có can đảm „đằng sau
quay“ như vậy ! (Ý kiến nhỏ
nhân ngày lễ lớn - về lý luận và thực tiễn)
Chẳng cần phải đi đâu xa, nếu ông Trọng dám thành
thực với chính mình thì phải thừa nhận một sự thực là, ngay nhiều quốc
gia trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á không theo chế độ Xã hội Chủ nghĩa
nhưng đang vượt xa VN về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cả
hàng mấy chục năm và chính đảng Cộng sản VN cũng đang phải ngửa tay xin
viện trợ của họ. Người dân các nước này đang được hưởng một đời sống vật
chất sung túc và được nhà cầm quyền đối xử văn minh, chứ không như dân tộc
VN phải lặn ngụp trong đói nghèo và quằn quại trong bạo lực của Đảng Cộng
sản VN suốt gần sáu thập niên „giai đoạn quá độ Xã hội Chủ nghĩa“, nhưng vẫn hoàn toàn chưa thấy ánh sáng của cuối đường
hầm!
Trước đây những người lãnh đạo
tiền bối của ông Trọng và hiện nay cả ông Trọng –Lí thuyết gia của Đảng-
cùng các thân tín sau gần 60 năm cầm quyền vẫn lẩn quẩn không biết bao giờ
thì chấm dứt „giai đoạn quá độ“,
giai đoạn tàn bạo hơn cả thời Trung cổ mà nhiều sử gia trên thế giới đã từng
gọi là đêm dài vô tận của nhân loại. Sự thực của thời kì quá độ vô tận
này ông Trọng đã phải nhìn nhận, nhưng tại sao nay trong Đại hội 11 sắp tới
lại vẫn cưỡng bách gần 90 triệu nhân dân VN tiếp tục phải chịu đựng với
việc qui định như vậy trong Cương lĩnh Chính trị 2011? Trong chính trị đây là sự u mê ngu muội
và là một đòi hỏi vô lí đối với nhân dân, đối với dân tộc. Đây là thái độ
rất vô trách nhiệm của người cầm quyền !
Nếu thực
tình muốn dân giầu nước mạnh và bài trừ tham nhũng thì phải cắt đứt cái
đuôi „định hướng Xã hội Chủ nghĩa“
và giải thể các tập đoàn và tổng công ti. Nhưng tại sao ông Trọng lại vẫn
đòi các Doanh nghiệp Nhà nước làm „nền
tảng“ kinh tế ?
Điểm quan trọng khác ông Trọng cũng đang đưa vào
Cương lĩnh Chính trị 2011 là nhất định tiếp tục giữ „phát
triển Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa“. Như
phần trên đã trình bày, sau khi Liên xô sụp đổ những người tiền bối của
ông Trọng đã phải vội vã từ bỏ mô hình phát triển sơ cứng của Xã hội Chủ
nghĩa trong kinh tế và chụp giựt mô hình „cải cách“ của Đặng Tiểu Bình
theo phương châm „mèo trắng mèo
đen, mèo nào cũng được, miễn là bắt được chuột“, áp dụng phương thức
sản xuất và kinh doanh Kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo độc nhất của Đảng
Cộng sản Trung quốc. Ở VN đường lối
phát triển kinh tế này từ sau Đại hội 9 (4.2001) được gọi chính thức dưới
cụm từ „Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ
nghĩa.“ Nghĩa là áp dụng một
số phương pháp làm ăn của Kinh tế thị trường nhưng đặt dưới quyền lãnh đạo
độc tôn của Đảng Cộng sản. Một số
đặc điểm chính của đường lối kinh tế này hiện nay ở VN là: 1. Đất đai và tài nguyên thiên
nhiên thuộc độc quyền Nhà nước, hiểu ở đây là thuộc độc quyền của Đảng Cộng
sản, mà thực tế là sự thoán đoạt của một vài người có quyền lực lớn nhất.
2. Kinh tế Nhà nước (danh từ cũ
doanh nghiệp quốc doanh) được coi là chủ đạo. 3. Mở cửa trải thảm đỏ mời đón các tư bản nước ngoài, nhất là
các nhà tư bản chịu „chia hoa hồng“
và trao „phong bì“ cho các quan
chức Cộng sản có máu mặt được dễ đàng vào VN làm ăn.
Hậu quả của các chủ trương này trong nông nghiệp là
không thể công nghiệp hóa nông nghiệp, vì nông dân không được làm chủ ruộng
đất, vẫn phải thuê ruộng đất của Nhà nước, nên không kích thích được nông
dân hiện đại hóa nông nghiệp. Vì thế tuy VN là nước xuất khẩu gạo đứng thứ
hai trên thế giới, nhưng thành phần nông dân chiếm trên 60 triệu người vẫn
bị bạc đãi và có đời sống rất thấp, vì các Tổng công ti lương thực của
Nhà nước đang làm ăn theo lối ích kỉ, lợi ích nhóm.
Chủ trương Kinh tế Nhà nước làm chủ đạo đã cho phép
thành lập các tập đoàn, tổng công ti và công ti do chính các bộ hay cơ
quan Nhà nước trực tiếp chỉ huy, nhưng thực tế các người có quyền lực đã
để cho các thân tín vào nắm giữ các ban giám đốc và ban quản trị. Các tập
đoàn và tổng công ti đang nắm các huyết mạch kinh tế chính của VN, được tự
do sử dụng đất đai, tài sản, được Ngân hàng Nhà nước cho vay ưu đãi từ tiền thuế của nhân dân. Cách tổ chức vận
hành này của các Doanh nghiệp Nhà nước đã tạo sự ỷ lại vào Nhà nước, mất
óc sáng kiến, vì thế hầu hết các Doanh nghiệp Nhà nước đều làm ăn thua lỗ
và trở thành một gánh nặng cho nhân dân. Hiện nay với sự cho phép của những
người có quyền lực, nhiều tập đoàn và tổng công ti đã trở thành quốc gia
trong một quốc gia, dùng cửa trước hợp pháp hóa lấy tiền của Nhà nước do
dân đóng thuế và dùng sân sau để cho gia đình và vây cánh giành các chỗ béo bở và tự do chia
chác, sài sẻo tiền của của nhân dân, bất kể tới thua lỗ và thiệt hại cả
hàng trăm ngàn tỉ đồng. Các tệ trạng điển hình hiện nay như Tập đoàn công
nghiệp tầu thủy VN (Vinashin), Tập đoàn Điện lực VN (EVN), Tập đoàn
than-khoảng sản (TKV)… Chỉ riêng tập đoàn Vinashin nội trong bốn năm
(2006-2010) đã nợ tới 86.000 tỉ đồng (4,5 tỉ USD). Chính việc phí phạm tài sản quốc gia nghiêm trọng này
đã được Bộ chính trị -trong đó có ông Trọng- xác nhận ngày 31.7.2010.
Mặt khác do cơ chế độc đảng, nên những người có quyền
lực ở trung ương và địa phương đang lợi dụng việc mở cửa với bên ngoài
theo lối tháo khoán đã để dễ dàng và giành ưu đãi (như lập các sân golf
và xây biệt thự) cho các tư bản nước ngoài biết chịu chi cho các quan chức,
khiến cho hàng trăm xí nghiệp của nước ngoài đang là nơi bóc lột trắng trợn
và tàn bạo hàng triệu công nhân VN như thời thực dân trước đây. Nguyên
Phó thủ tướng Đức và cựu đảng trưởng đảng Dân chủ Xã hội Đức Fr.
Münterfering đã từng ví bọn tư bản bóc lột (khác với các nhà tư bản làm
ăn đứng đắn có lương tâm) như những con châu chấu cào cào, thấy chỗ nào
có ăn, chúng đổ xô tới ăn sạch cánh đồng lúa, ăn hết chúng bỏ đi tìm nơi
khác có ăn ! Chủ trương dung túng và cùng nhau chia phần với bọn tư bản
bóc lột còn đưa tới một hậu quả rất bất lợi cho kinh tế VN là các máy móc
sản suất đưa vào VN phần lớn thuộc các thế hệ kĩ thuật đã lỗi thời có
năng suất thấp, việc truyền giao kĩ thuật công nghiệp mới không được đề
cao, công nhân VN chỉ làm theo lối gia công với đồng lương chết đói. Thiếu
hẳn một chính sách nhằm khuyến khích và phát triển tầng lớp doanh gia và
kĩ thuật gia hiện đại VN để làm đầu tầu phát triển kinh tế và canh tân đất
nước.
Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa dưới
sự lãnh đạo độc quyền của Đảng Cộng sản với các đặc điểm trên đang trở
thành nơi nuôi dưỡng và bảo vệ các quan tham nhũng, nơi bóc lột và đàn áp
người lao động khiến cho hàng trăm ngàn công nhân đã phải đứng lên tổ chức
các cuộc đình công trong các năm qua. Đây chính là tái sinh các khuyết tật
tàn bạo của chế độ tiền tư bản thời kì hoang dã…Khi đó vua chúa và quí tộc
đã liên kết với các nhà tư bản bóc lột tàn bạo và ngược đãi công nhân.
Nay ở VN thì bọn tham quan „thẻ đỏ tim đen“, bọn chủ nhân bóc lột của
các xí nghiệp nước ngoài và bọn giám đốc các Doanh nghiệp Nhà nước cũng
đang toa rập với nhau bòn rút máu mủ công nhân VN!
Sự
thực này đã được chính một phần báo chí của chế độ, nhiều chuyên viên
trong nước tố cáo và cả một số tổ chức quốc tế có uy tín đã lên tiếng cảnh
báo. Họ đã đưa ra đề nghị chấm dứt hoặc giảm bớt tối đa vai trò của các Doanh
nghiệp Nhà nước… Nhưng trong bài “Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ
Cương lĩnh năm 1991 đến nay” Nguyễn Phú Trọng lại đưa ra chủ trương
ngược lại, đòi vẫn duy trì tăng cường „Kinh
tế Nhà nước cùng với Kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
của nền kinh tế quốc dân“. Ở đây ông Trọng chỉ đổi tên „chủ đạo“, đã bị kết án, thành „nền tảng“ mà thôi, còn nội dung vẫn giữ
nguyên. Nếu đòi hỏi này của ông Trọng được dùng làm nền tảng trong lãnh vực
kinh tế của Cương lĩnh Chính trị 2011 thì rõ ràng đây là cách đi thụt
lùi, ngang nhiên chống lại những đòi hỏi chính đáng của các chuyên viên
và trí thức và đi ngược lại lợi ích của nhân dân!
Nếu chủ trương tăng cường vai trò của các tập đoàn và
tổng công ti trở thành nền tảng của hoạt động kinh tế ở VN được nhìn nhận
trong Cương lĩnh Chính trị 2011, như Nguyễn Phú Trọng đã ra lệnh, thì VN
sẽ đứng trước các nguy cơ bọn quan tham nhũng gia tăng cấu kết với bọn tư
bản ngoại quốc bóc lột: Mọi tăng trưởng kinh tế sẽ rơi vào túi tham của
các quan „thẻ đỏ tim đen“ và
làm giầu cho bọn tư bản bóc lột nước ngoài, VN tiếp tục tụt hậu trong
kinh tế, tham nhũng càng bất trị, bất công xã hội tiếp tục gia tăng, công
nhân và nông dân bị bóc lột tàn nhẫn hơn!
Chủ nghĩa cuồng tín cộng với đảng trị đẻ
ra các quái thai trong văn hóa và pháp luật: hận thù, bạo lực, lai căng,
đạo đức giả, tham nhũng và quyền-tiền ngồi trỗm trệ trên pháp luật
Trong phần về văn hóa và pháp luật
ông Trọng đã nói tới những đóng góp to lớn của ý thức hệ Marx-Lenin và
công lao của đảng trong việc phát triển văn hóa này vào VN trong gần 60
năm qua và từ đó ông đi đến kết luận được coi là hướng đi của văn hóa trong giai đoạn tới thể hiện
trong Cương lĩnh Chính trị 2011: „Để văn
hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội phải làm cho chủ nghĩa
Mác-Lê-nin …giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.“
Nếu hiểu văn hóa
là các phương thức sinh hoạt của một xã hội trong các lãnh vực chính trị,
kinh tế, pháp luật, giáo dục, tôn giáo…; là cách xử thế giữa người với
người, giữa giới cầm quyền với công dân –trong đó vai trò của người cầm
quyền rất quan trọng, nó là cái gương cho toàn xã hội nhất là những nước
chưa đạt tới mức phát triển cao- thì gần 60 năm qua chế độ toàn trị đã dựng
lên một loại văn hóa ở VN có một số đặc điểm: 1.Đây là một nền văn
hóa độc thoại và ra lệnh chứ không phải là văn hóa đối thoại và thảo luận
bình đẳng giữa người với người và giữa các tổ chức, kể cả với chính quyền.
Trong đó kẻ có quyền ra lệnh còn nhân dân chỉ
biết nhận lệnh. 2. Đây là một nền văn hóa đề cao hận thù, bạo lực,
nghi kị và chia rẽ thay cho bao dung, hòa bình và tin cậy lẫn nhau. 3.
Đây là một nền văn hóa ngoại lai, lai căng, đã được nhập khẩu không có
cân nhắc chọn lựa, chứ không phải là nền văn hóa biết gìn giữ và phát triển
các tinh hoa của dân tộc VN và biết hấp thụ các trào lưu văn hóa, khoa học
tiến bộ và nhân bản của thời đại . 4. Ý thức hệ Marx -Lenin, những
phương pháp bạo ngược của Stalin và Mao đề cao bạo lực và khủng bố trong
việc cai trị đối với nhân dân hoàn toàn xa lạ với các truyền thống đạo đức
và các tôn giáo chính ở VN… 5. Riêng tại VN từ hơn 20 năm nay với
việc du nhập Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa dưới sự chỉ
huy độc đoán của Đảng Cộng sản còn phát sinh văn hóa phong bì, quan lớn
ăn lớn quan nhỏ ăn nhỏ… 6. Đây là một nền văn hóa đã bị thực tế phủ
nhận, đã bị nhiều dân tộc từng là xuất xứ của nền văn hóa này nay đã dứt
khoát loại bỏ vì nó phi nhân, phản động và độc tài.
Nền tảng văn hóa
VN từng được coi là văn minh, nhân
bản có sức tự canh tân, biết đoàn kết nội lực và đánh bại các xâm lấn từ
bên ngoài. Nhờ thế VN đã tồn tại và phát triển suốt mấy ngàn năm, trong
nhiều thời kì đã trở thành một cường quốc độc lập và phú cường trong khu
vực. Nhưng hệ tư tưởng độc tôn cộng với một đảng độc
quyền và nhất là sự độc quyền kéo dài gần 60 năm qua đang tiêu hủy và phá
hoại các tinh hoa của nền văn hóa này.
Chủ nghĩa „xin-cho“, một đặc tính căn bản của chế độ độc tài toàn trị, đang ngự trị
trong tư duy, hành động và thái độ cư xử giữa kẻ có quyền thế và người
dân thấp cổ bé miệng trong nhiều lãnh vực. Trong việc tuyển chọn nhân tài
cũng như trong việc kiếm sống hàng ngày, kẻ “cho“ đã lợi dụng quyền lực tỏ
thái độ hống hách và thiên vị để chỉ đưa các đảng viên thuộc vây cánh và
thân nhân giữ các chức vụ quan trọng hay các nơi hái ra tiền. Các người
„xin“ chỉ còn biết vâng dạ và nịnh hót! Trong giáo dục, chủ nghĩa „xin-cho“ nẩy sinh tác phong chạy trường, chạy lớp, chạy điểm và bằng giả ngồi
ghế cao đang được coi là những chuyện bình thường trong xã hội Xã hội Chủ
nghĩa. Việc này không chỉ thanh thiếu niên VN đang là nạn nhân mà cả các
đại sứ nước ngoài đều biết và mới đây họ đã lên tiếng công khai cảnh báo
nhóm lãnh đạo! Trong cuộc sống hàng ngày, từ thời áp dụng Kinh tế thị trường
định hướng Xã hội Chủ nghĩa, chủ nghĩa „xin-cho“ đã đẻ ra tác phong „phong bì“, kẻ có quyền tìm cách moi tiền ăn bẩn bằng mọi cách, kẻ có tiền
dùng tiền mua quyền. Quyền-tiền đang đánh bạt đạo đức, phá tan các kỉ cương của xã
hội và đạp lên luật pháp! Do đó tham nhũng và cửa quyền càng trở nên bất
trị, vì chế độ độc tài toàn trị lại chính là mụ đỡ vừa khuyến khích vừa
bao che cho những kẻ có quyền và có tiền!
Với những đặc tính
như vậy cho nên, nếu cố giữ lấy chế độ độc đảng để tiếp tục thực hành nền
văn hóa đã được các bạo chúa khai sinh như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông
và đã được một số người cầm đầu Cộng sản Việt Nam thiển cận và ngu muội
du nhập vào VN thì hiển nhiên là đang chống lại hướng đi của loài người,
chống lại trào lưu của thời đại và đặc biệt chống lại những khát vọng
chính đáng của nhân dân VN.
Thật là mỉa mai, chính
những người phá hoại nền Văn minh Dựng nước-Giữ nước-Thăng long và Văn
hóa Bao dung Đoàn kết Diên Hồng của dân tộc Việt lại đang tự vỗ ngực đứng
ra tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng long!
Những
tàn bạo khốc hại của văn hóa Marx-Lenin-Stalin-Mao đã bị đại đa số các
dân tộc trên thế giới kết án nghiêm khắc, ngay chính nhiều nước từng tôn
thờ nó nay cũng đã đứng lên rũ bỏ, chọn một văn hóa khác có tính nhân bản
cao để hồi sinh nước mình. Nhưng tại sao Nguyễn Phú Trọng trong bài “Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ
Cương lĩnh năm 1991 đến nay” lại vẫn lú lẫm khăng
khăng tiếp tục đòi „chủ nghĩa
Mác-Lê-nin... giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần“ để ghi trong Cương lĩnh Chính trị 2011? Như vậy chủ trương duy trì văn hóa này
không chỉ thoái hóa, đi thụt lùi, chống lại trào lưu văn minh của thời đại
và còn cản trở lối ra và hướng đi lên của cả dân tộc ! Đây là một chủ
chương cực kì nguy hiểm và phi nhân !
Trong đối ngoại tại sao Cương lĩnh Chính
trị 2011 không dám
nêu đích danh kẻ thù nguy hiểm trực tiếp
hiện nay của dân tộc?
Suốt cả hai trang dài nói về mục
tiêu, chủ trương và chính sách đối ngoại trong giai đoạn hiện nay và sắp
tới, nhưng Nguyễn Phú Trọng chỉ nói rất chung chung về một lãnh vực rất
quan trọng để giữ nước, phát triển nước trong thời kì toàn cầu hóa. Không
có một một đoạn nào hay từ nào ông Trọng nêu đích danh kẻ thù bên ngoài
hiện nay của VN là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm đang hiển hiện trước mắt. Việc hệ trọng này ai cũng biết, kể cả
giới học sinh, nhưng Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng lại không biết, hay giả vờ
không biết, không dám nói động đến tên. Chính thái độ khúm núm sợ sệt đến
mức độ ươn hèn này của người cầm trịch quyền lực đã khiến đẻ ra các ngôn
ngữ „kẻ lạ“, „tầu lạ“ trong báo chí của chế độ, mỗi khi nói tới những chủ trương và hành
động thôn tính hải đảo, tài nguyên hay đàn áp bạo ngược ngư dân VN của chế
độ bành trướng Bắc kinh trong thời gian qua.
Ông Trọng cũng đã
không dám nhìn thẳng vào sự thực để nói rõ các nguyên nhân đích thực nào
đang đưa VN phải đương đầu với vấn nạn đối ngoại cấp bách và nguy hiểm hiện
nay để tránh một sự tái diễn cho tương lai. Đó chính là thái độ khiếp
nhược cúi đầu trước Bắc kinh có cội nguồn không phải vì sức mạnh đang lên
của Trung quốc, mà chính là vì tâm lí tự ti nhược tiểu và những tính toán
vị kỉ, thiển cận của nhóm cầm quyền từ cuối thập kỉ 80 của thế kỉ trước. Từ đó đã dẫn tới từ sai lầm chiến lược này đến sai lầm chiến lược
khác, kết quả là đang rơi vào thế bị động, lúng túng cùng cực. Chính vì
thế suốt hai thập niên vừa qua Bắc kinh đã được đằng chân lân đằng đầu, với
sự cúi đầu chấp nhận của Hà nội, từ lấn chiếm đất liền, đơn phương hợp
pháp hóa các hải đảo của VN, nay còn công khai dùng áp lực quân sự và sức
ép kinh tế đòi kiểm soát ¾ biển Đông, đồng thời mở rộng bòn rút tài
nguyên trên đất liền và trên biển.
Nhiều quốc gia
trong khu vực dân số ít hơn và diện tích nhỏ hơn VN, nhưng vẫn giữ được
quan hệ bình đẳng, độc lập với Bắc kinh, vì giới cầm quyền biết dựa vào
dân, dân tin lãnh đạo, và chính quyền các nước này theo đuổi sách lược đối
ngoại khôn ngoan biết liên minh và dùng sức mạnh của thời đại ngăn chặn
và chế ngự những áp lực và tham vọng bá quyền của Bắc kinh.
Giới cầm đầu Cộng
sản Việt Nam từ cuối thập niên 80 của thế kỉ trước đặt ưu tiên bảo vệ chế
độ độc tài, bảo vệ cái ghế của nhóm cầm quyền cao hơn độc lập dân tộc và
danh dự tổ quốc, nên đã thực hiện tiêu chí „Đảng Cộng
sản Trung quốc trụ được thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng trụ được“, nếu Đảng Cộng sản Trung quốc tiếp tục độc quyền thì Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng làm được. Chủ trương thần phục Bắc kinh đã được khai trương
từ 1990 khi những người cầm đầu chế độ lúc đó đứng đầu là Tổng bí thư
Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười
cùng cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã luồn lủi bí mật tới Thành Đô (Trung
quốc) cúi đầu thần phục phương Bắc, mở đầu kỉ nguyên lệ thuộc ý thức hệ,
đường lối đối ngoại, lệ thuộc kinh tế và thương mại. Những người được họ
đặt vào kế vị như Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã tiếp nối cúi đầu cầu
an và còn đi xa hơn với việc kí kết các Hiệp định biên giới trên đất liền,
Hiệp định về đánh cá, Hiệp định tuần tra chung trên biển Đông….Hiện nay
còn để Bắc kinh khai thác Bauxit ở Tây nguyên bất kể tới sự cảnh báo của
đại thần cuối cùng còn sống của chế độ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và nhiều
lão thành cách mạng cùng các chuyên viên; đồng thời Bắc kinh còn được
khai thác các rừng ở đầu nguồn giáp giới với Trung quốc và các khu vực có
vị trí chiến lược.
Tâm lí tự ti và chọn mục
tiêu ưu tiên bảo vệ quyền lợi của nhóm cầm quyền trên quyền lợi độc lập của
đất nước đã làm cho những người cầm đầu Cộng sản Việt Nam hiện nay không
dám lấy những quyết định độc lập, không dám chủ động chọn một chiến lược
đối ngoại khôn ngoan và thích hợp, hiện nay sự lệ thuộc đã rơi tơi mức tồi
tệ đến nỗi không dám nói thẳng, nói đúng kết án các hành động bá quyền của
Bắc kinh!
Sai lầm chiến lược
về đối ngoại đã đi thêm một bước nữa
khi Nguyễn Phú Trọng làm Chủ tịch Hội đồng Lí luận Trung ương vào
đầu thập niên thứ nhất của thế kỉ này. Chính ông Trọng đã là người chủ động
cột chặt thêm một mức nữa ràng buộc Đảng Cộng sản Việt Nam vào Bắc kinh
trong nhiều lãnh vực. Chính ông Trọng đã là người sáng lập, về phía Đảng
Cộng sản Việt Nam, các cuộc Hội thảo Lí luận giữa hai Đảng Cộng sản Việt
Nam và Đảng Cộng sản Trung quốc và đã cầm đầu phái đoàn Cộng sản Việt Nam
thảo luận với Đảng Cộng sản Trung quốc về nhiều vấn đề quan trọng nhằm mục
tiêu liên kết các hoạt động của hai bên từ tư tưởng, đối ngoại, kinh tế,
quốc phòng tới văn hóa. Vì thế hiện nay hai đảng đã thỏa thuận „hợp tác chiến lược toàn diện“ Sự hợp tác này dựa trên căn
bản bất bình đẳng hoàn toàn có lợi cho Trung quốc và bất lợi cho VN. Việc
này thể hiện rất rõ ràng trong quan hệ thương mại giữa hai nước. Trong những
năm gần đây kim ngạch buôn bán với Trung quốc rất bất lợi cho VN. Mỗi năm
VN nợ Trung quốc cả trên chục tỉ Mĩ kim và cứ năm này cao hơn năm trước,
thành thử Bắc kinh đang trở thành chủ nợ lớn của Hà nội.
Vai trò trọc phú
chủ nợ của Bắc kinh đã khiến họ tỏ thái độ „chủ-tớ“ đối với nhóm cầm đầu
Cộng sản Việt Nam hiện nay thể hiện ra cả trong cách tiếp đón lẫn ngôn ngữ
của họ. Khi Nguyễn Tấn Dũng lần đầu tiên thăm chính thức Trung quốc trong
tư cách là Thủ tướng, tại cuộc hội kiến ngày 22.10.08 Hồ Cầm Đào, Tổng bí
thư Đảng Cộng sản Trung quốc và Chủ tịch nước Trung quốc, đã nói rất trịch
thượng theo lối dạy bảo với ông Dũng:
„Hai nước Trung – Việt phải nắm vững phương
hướng đúng đắn phát triển quan hệ hai nước, tăng thêm sự tin cậy
chiến lược, tăng cường hợp tác toàn diện, thúc đẩy quan hệ đối
tác hợp tác chiến lược toàn diện phát triển vừa tốt vừa
nhanh. „
Còn về vấn đề biển Đông ông
Đào ra lệnh:
„Chủ tịch Hồ Cẩm Đào còn chỉ rõ, hai nước
nên nhìn nhận đúng đắn và xử lý ổn thoả vấn đề biển Nam Hải, cố gắng tìm kiếm
con đường và hình thức tăng cường hợp tác trên biển Nam Hải,
khiến biển Nam Hải trở thành biển hoà bình, hợp tác, hữu
nghị.“
Trong khi đó Nguyễn Tấn Dũng
chỉ ấp úng, khúm núm vâng dạ:
„Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Đảng, Chính
phủ và nhân dân Việt Nam trước sau như một luôn hết sức coi trọng, chân
thành mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị với Trung quốc và sẽ làm hết
sức mình để vun đắp cho quan hệ giữa hai Đảng, hai nước ngày càng phát triển
vững chắc.“
Thái độ khúm núm nhận chỉ thị
của Bắc kinh cũng thể hiện cả trong người đứng đầu Bộ quốc phòng VN vào
các dịp gần đây. Khi Phùng Quang Thanh cầm đầu phái đoàn quân sự cao cấp
VN thăm Trung quốc, Hồ Cẩm Đào không tiếp mà chỉ để Phó Chủ tịch
Nước Trung quốc và Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Cộng sản Trung quốc
Tập Cận Bình tiếp tại Đại Lễ đường
Nhân dân ở Bắc kinh ngày 22.4. Trong dịp đó Phùng Quang Thanh đã rất khúm
núm mất tự trọng và đánh mất lập trường bảo vệ độc lập của VN:
“Bất kể tình hình quốc tế và khu vực biến
đổi ra sao, Việt Nam đều sẽ tiếp tục kiên trì chính sách hữu
nghị với Trung Quốc, sẵn sàng cùng Trung Quốc không ngừng sâu
sắc hợp tác hữu nghị trong các lĩnh vực.”
Mới
đây quan điểm khác biệt giữa Bộ quốc phòng và Bộ ngoại giao đã trở thành
công khai về lập trường đối với Bắc kinh. Đầu tháng 6 vừa qua giữa lúc Thứ
trưởng Ngoại giao VN họp ở Hà nội với Trợ lí Bộ ngoại giao Mĩ về “Đối thoại
chiến lược về chính trị-an ninh-quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ lần thứ ba”, trong
đó có bàn cả việc Trung quốc đòi làm chủ ¾ biển Đông và đe dọa an ninh
khu vực và thế giới thì Phùng Quang Thanh đã tuyên bố ngay tại hành lang
Quốc hội: " Chúng ta cũng phải chú ý không để cho các
nước khác kích động vấn đề này." Không những thế người cầm đầu Bộ quốc phòng VN còn
bênh vực Bắc kinh:
"Không để các lực lượng xấu sử dụng vấn đề Biển Đông để kích động,
chia rẽ quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, chia rẽ quan hệ giữa Đảng, Nhà nước
với nhân dân chúng ta."
Thậm
chí Phùng Quang Thanh còn tuyên bố trước báo chí:
„Tình hình trên biển Đông là yên tĩnh, hoạt động của quân đội chúng
ta hết sức bình thường, không có gì trở ngại cả.“
Người
thân cận của Phùng quang Thanh, Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh,
còn đi xa hơn nữa khi tuyên bố tại Bắc kinh vào cuối tháng 8:
„Là hai nước láng giềng thân
thiện, Việt Nam vui mừng về sự phát triển của Trung Quốc, đặc biệt là phát triển
quân sự của họ, không đặt ra một mối đe dọa cho các nước khác cũng không
gây nguy hiểm cho hòa bình và ổn định trong khu vực".
Người
ta sẽ không ngạc nhiên về những lời trên của Bộ trưởng và Thứ trưởng quốc phòng chế độ độc tài
toàn trị, vì ngay chính Nguyễn Phú Trọng –người đang có quyền lực mạnh- cũng
đang tìm đủ mọi cách làm ngơ và che đỡ cho chính sách bành trướng của Bắc
kinh. Trong phiên họp 33 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội vào cuối tháng 8 do chính ông Trọng chủ tọa,
ông đã ngăn cản các ý kiến đòi Quốc hội đưa vấn đề tình hình an ninh biển
Đông ngày càng căng thẳng ra thảo luận tại kì họp Quốc hội vào cuối năm
nay. Giữa khi Bắc kinh đang cho thao diễn quân sự bắn đạn thật trên biển
Đông, ngăn cấm và bắt giữ ngư dân VN hành nghề trên biển Đông và còn cho
cả tầu ngầm cắm cờ Trung quốc dưới lòng biển Đông, nhưng Nguyễn Phú Trọng
trong buổi họp bế mạc của Ủy ban này đã bác bỏ đòi hỏi khẩn trương này và
lại còn nhắm mắt tuyên bố ngang ngược là “không
có gì mới” trong an ninh ở biển Đông !
Từ
Chủ tịch Quốc hội tới lãnh đạo Bộ quốc phòng đều nhắm
mắt phủ nhận việc Bắc kinh mở rộng các căn cứ hải quân và tăng cường tuần
tra của hải quân Trung quốc ở biển Đông, nhắm mắt không thấy việc hàng
trăm ngư dân VN trong các năm qua bị hải quân Trung quốc săn đuổi giết hại,
làm bị thương và tịch thu tầu đánh cá, trong khi đó các lực lượng hải
quân và bộ đội biên phòng VN tránh mặt không dám bảo vệ ngư dân mình. Giữa
lúc những người cầm đầu chế độ độc tài toàn trị ờ Hà nội ca ngợi bang
giao Việt-Trung và phủ nhận những hoạt động quân sự gia tăng của Bắc kinh
ở biển Đông thì tiếng nói của Bộ ngoại giao chỉ trích Bắc kinh còn có thể
nào làm cho các nước thân hữu và các cường quốc chia sẻ và tin cậy được,
làm sao họ có thể ủng hộ VN chống lại áp lực của Trung quốc ! Đúng là cảnh ông nói gà bà nói vịt!
Rõ ràng những tuyên
bố trên của Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh và Nguyễn
Chí Vịnh đã vi phạm vào tội danh phản bội tổ quốc theo Bộ Hình luật của
chế độ ! Nhưng tại sao những người này vẫn còn ngồi chỗm trệ ? Trong khi
đó các trí thức, chuyên viên, sinh viên học sinh phản đối hành động xâm
lược của Bắc kinh thì bị kết tội chống phá cách mạng !
Hiện
nay những người thân tín của Bắc kinh đang nắm giữ các chức vụ then chốt
trong chế độ độc tài toàn trị ở VN. Điều này giải thích tại sao ông Trọng
đã không dám nêu rõ trong Cương lĩnh Chính trị 2011 đối thủ nguy hiểm bên
ngoài trước mắt của VN là nước nào. Từ đó có thể tiên liệu là, chừng nào
những phần tử chỉ biết cúi đầu với bên ngoài để mong được „leo cao, ngồi lâu“ tại Đại hội 11 sắp tới thì những „kẻ lạ“ sẽ còn tỏ ra trịch thượng
hơn và càng ngang ngược hơn trong việc thực hiện ý đồ bành trướng hải đảo
và bòn rút tài nguyên của VN !
Lãnh đạo thoái hóa, bất tài và cúi đầu trước Bắc kinh
nhưng lại vẫn muốn leo cao, ngồi lâu để tiếp tục độc quyền!
Tiếp nối
cách lí luận chân lí một chiều, lú lẫm trước các tội ác đối với nhân dân
và im lặng không dám nói tới kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của dân tộc,
trong phần cuối của bài “Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm
1991 đến nay” Nguyễn Phú Trọng đã lập lại các luận điểm
cũ rích, lạc hậu và hoàn toàn bất khả thi về „xây dựng Đảng“. Trong đó ông
vặn lại dây cót phát thanh: „Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn; tăng cường xây dựng
Đảng trong sạch…“ Ở đây
ông Trọng chỉ lâp lại những điều biết rồi khổ lắm nói mãi, nhai lại trong
mấy chục năm qua, hoàn toàn không đưa ra một giải pháp mới, một cách nhìn
mới nào! Đã thế ông vẫn đưa ra đòi hỏi ngang ngược là, phải tiếp tục giữ
độc quyền cho Đảng, tức là độc quyền cho nhóm tham nhũng cả quyền lẫn tiền.
Ông khẳng định „Đảng ta là đảng
cầm quyền“ và tự tâng bốc „luận điểm này
là một bước phát triển mới rất quan trọng về nhận thức của Đảng trong 20
năm qua.“
Chính ông Trọng thừa biết, suốt
từ Đại hội 3 (1960) trở đi, khi Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền và
độc quyền thì trong mỗi Đại hội các yêu cầu „Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn;
tăng cường xây dựng Đảng trong sạch…“ đều đã được đặt ra.
Nhưng trong thực tế suốt gần 60 năm cầm quyền độc đoán Đảng Cộng sản Việt
Nam đã không trở thành một chính đảng dân chủ và trong sạch, mà trái lại mức
độ độc tài càng tệ hại. Nguy hiểm nữa là đảng
này đang trở thành một công cụ của một nhóm người độc tài tham nhũng đang
nhân danh Đảng và nhân danh những sự đóng góp và hi sinh của hàng triệu đảng viên và
nhân dân cho những mục tiêu trong sáng phục vụ đất nước và bảo vệ tổ quốc
để củng cố địa vị cá nhân và làm giầu bất chính !
Khi còn sống cựu Thủ tướng Võ
Văn Kiệt đã từng nhiều lần, từ viết khuyến cáo riêng tới cả công bố công
khai, đòi hỏi dân chủ hóa nội bộ Đảng Cộng sản, nhiều tướng lãnh và lão
thành cách mạng cũng đã yêu cầu nhóm cầm đầu phải tỏ thiện chí và lòng
thành thực, nhưng tất cả đều rơi vào sọt rác và quên lãng. Gần đây nhiều
lão thành cách mạng và tướng lãnh cũng viết thư yêu cầu thực hiện dân chủ
hóa nội bộ Đảng và đòi một số Ủy viên Bộ chính trị nên nghỉ trong Đại hội
11 -trong đó có Nguyễn Phú Trọng-, nhưng vẫn chỉ là những tiếng kêu trong
sa mạc ! Nay đa số đảng viên đã ý thức rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn không có khả năng tự dân chủ
hóa nội bộ, bởi vì mọi manh nha như thế sẽ bị nhóm bảo thủ độc tài cấu kết
với Bắc kinh lũng đoạn và thanh toán ngay từ trong trứng nước.
Chứng minh điển hình mới nhất về khẩu hiệu giả
dối về dân chủ hóa nội bộ „Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn;
tăng cường xây dựng Đảng trong sạch…“ mà chính Nguyễn
Phú Trọng đưa ra lại bị chính Nguyễn Phú Trọng chống lại là, trong các tuần
lễ gần đây một số nhân vật có quyền lực trong Bộ chính trị đã chia nhau đi dự các hội nghị của các
thành ủy, tỉnh ủy, đảng bộ Quân đội, đảng bộ Công an…để nghe báo cáo của
các đảng ủy về công tác chuẩn bị đại hội và phương án nhân sự ở địa
phương. Trong các dịp này các ủy viên Bộ chính trị đã ra chỉ thị „bảo đảm Đảng
lãnh đạo toàn diện“. Ngay trong các dịp này chính ông Trọng cũng
đã ra lệnh phải chọn nhân sự như thế nào ở cấp ủy trong các đại hội ở địa
phương:
„Cơ cấu là quan trọng, nhưng tiêu chuẩn là quyết định“. Điều
này cho thấy, các cấp ủy ở các đảng bộ này vẫn không được phép báo cáo
trung thực và độc lập chọn lựa nhân sự những đảng viên có uy tín và khả
năng vào cấp ủy ở địa phương hay ngành. Cách ra mệnh lệnh như vậy là tăng
cường dân chủ hóa nội bộ hay đang đẩy mạnh tập trung chỉ huy độc đoán của
những người có quyền lực?
Những yêu cầu về dân chủ hóa nội
bộ Đảng trên chắc chắn không thể nào thực hiện được và ông Trọng cũng thừa
biết tại sao nó không thể làm được. Độc tài như một vòng nước xoáy không
thể tự dừng lại được, trong đó quyền-tiền là động lực làm cho độc tài
càng tàn bạo hơn. Trong một chế độ toàn trị, các chính đảng khác và các
đoàn thể công dân vắng bóng, nên Đảng
Cộng sản một mình một chiếu, nó không thấy có nhu cầu phải tự dân chủ hóa
nội bộ.
Là một lí thuyết gia của Đảng
Cộng sản đúng ra ông Trọng phải biết lịch sử thế giới và qui luật chính
trị. Trong
lịch sử nhân loại hầu như chưa bao giờ một chế độ độc tài (cá nhân hay đảng
tri) lại tự trở thành dân chủ. Qui luật chính trị đã cho thấy, chỉ có
tiến trình đi ngược lại: Kẻ đã độc tài, kẻ đã ăn bẩn thì sẽ tìm mọi cách
tàn bạo hơn để giữ độc quyền và ăn bẩn hơn nữa! Ở điểm này cũng
lại đã cho thấy, ông Trọng hoặc đã „lú „
thật, hoặc đã chối bỏ sự thực, nói thẳng ra là đã dối trá phủ nhận một sự
thực khách quan của lịch sử chính trị. Một chính trị gia như ông Trọng mắc
cả hai bệnh này thì đã tự phủ nhận
vai trò lãnh đạo!
Vì thế, căn cứ vào
các sự kiện chính trị và lịch sử thì Đảng Cộng sản Việt Nam khởi đầu là một
đảng cách mạng, nhưng từ khi nắm giữ chính quyền một cách độc quyền suốt
gần 60 năm nên đã tự biến thể
thành một đảng cực kì độc tài và phản động. Những người lãnh đạo của đảng
này đã bị quyền-tiền làm tha hóa đạo đức, tàn bạo và đã đánh mất nhân
tính, không cón tư cách đại diện cho tầng lớp lao động và dân tộc. Nhưng khi kết luận cho Cương lĩnh Chính trị 2011 Nguyễn
Phú Trọng trong bài „Sự phát triển nhận
thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay” vẫn
lập lại „Ðảng cộng sản Việt Nam là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân
lao động và của dân tộc“. Đây là một
khẳng định hoàn toàn sai lầm và không còn giá trị. Ông Trọng chỉ lập lại
một khẩu hiệu sáo ngữ, lố bịch và không còn biết tự trọng. Những người cầm
đầu Cộng sản Việt Nam hiện nay không còn là đại biểu bảo vệ quyền lợi của người lao động và
của dân tộc. Từ lâu họ đã tự diễn biến trở thành người bảo vệ cái ghế
cao, túi tiền lớn của chính mình và vây cánh. Để đạt được lợi ích cá nhân
và phe nhóm họ sẵn sàng đàn áp nhân dân, tù đày các người yêu nước và cúi
đầu thỏa hiệp trước những đòi hỏi ngang ngược của bá quyền Bắc kinh !
Một nhóm người không đại diện cho nhân dân mà chỉ đại diện cho
chính họ để bảo vệ quyền-tiền, nay đang trương cờ đảng, lợi dụng đảng
viên và đánh lừa nhân dân VN. Vì thế, nếu những đòi hỏi Đảng Cộng sản tiếp tục là „đảng cầm quyền“ của Nguyễn Phú Trọng trở thành nội dung
chính của Cương lĩnh Chính trị 2011 thì đây là một sự cực kì ngạo mạn, tai họa thảm khốc và thách đố
không chỉ với nhân dân VN mà cả với các đảng viên còn tâm huyết và biết
quí lòng tự trọng!
* * *
Xét
quá trình hình thành và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1930 tới
nay thì thấy đặc điểm nổi bật của nó là từ một đảng cách mạng, nhưng từ khi trở
thành đảng cầm quyền và độc quyền chuyên chính suốt gần 60 năm nên nó đã
biến thể thành một đảng phản cách mạng cực kì phản động. Những
người lãnh đạo của nó thuộc thế hệ đầu tiên chỉ có trình độ kiến thức về
chính trị và lịch sử thế giới rất thấp và sơ sài. Chính sự ngu dốt này đã
khiến họ cuồng tín tin vào tư tưởng không tưởng của Marx và các biện
pháp tàn bạo và dã man để cướp và
nắm chính quyền của Lenin, Stalin và Mao. Họ đã sùng bái và coi chúng như
các đũa thần trong việc tiến lên thiên đường Cộng sản, tin rằng có thể sớm
vượt qua giai đoạn quá độ.
Các
biện pháp tàn bạo „đấu tố địa
chủ“, „trăm hoa đua nở“, „hợp tác xã“, „doanh nghiệp quốc doanh“, „cải tạo“,
„đánh phá tư sản mại bản“…. đã được thực hiện xuyên suốt gần
60 năm, lúc đầu ở miền Bắc từ sau 1975 ra toàn nước. Các biện pháp này đã
được thực thi trong „thời kì quá
độ“ đưa đến kết quả rất tàn khốc làm nhân dân VN nghèo
đói, tụt hậu, chia rẽ, hận thù. Nhưng thời kì quá độ tàn bạo đã không chấm
dứt mà lại kéo dài vô tận ở VN. Khi còn sinh thời, Phạm Văn Đồng,Thủ tướng
lâu nhất của chế độ độc tài toàn trị, vào cuối đời đã đưa ra nhận xét rất
thành thực về trình độ kiến thức, tư cách đạo đức và khả năng của nhóm cầm
quyền: Ngu
dốt + quyền lực + tham vọng đẻ ra cuồng tín, độc tài và tàn bạo ! Trong
khi đó chính cái nôi của chủ nghĩa Cộng sản - Liên xô - đã tan rã và kéo
theo sự sụp đổ của thế giới Cộng sản từ hơn 20 năm nay.
Đúng
ra, nếu sáng suốt và có đảm lược thì sự tan rã của Liên xô phải là bài học
rất tốt cho Cộng sản Việt Nam. Nhưng thay vì thực hiện chính sách dựa vào
dân và đoàn kết dân tộc, những người cầm đầu Cộng sản Việt Nam từ cuối thập
niên 80 của thế kỉ trước đã tìm hậu thuẫn từ bên ngoài. Một mặt họ quay đầu
thần phục Bắc kinh theo tiêu chí „Đảng Cộng sản
Trung quốc trụ được thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng trụ được“
và mặt khác tháo khoán cho bọn tư bản bóc lột nước ngoài vào làm ăn ở VN,
miễn là chịu chia chác dollar rộng rãi cho các quan tham nhũng ở trung
ương và địa phương. Họ làm việc này không phải là cứu đảng, nhưng là cứu
chính họ trong việc giữ quyền và moi tiền! Nhưng các chính sách này đang
dẫn tới những hậu quả nguy hiểm và khốc hại cho VN. Nguy hiểm: Vì Bắc
kinh đang được đằng chân lân đằng đầu, từ chiếm đóng các hải đảo của VN,
đòi kiểm soát ¾ biển Đông, tới bòn rút tài nguyên cả trên đất liền lẫn biển
khơi. Khốc hại: Nạn tham nhũng bất trị, tệ mua quan bán tước lộng hành,
pháp luật chỉ bảo vệ bọn tham quan và đàn áp dân lành, giáo dục tụt hậu,
đạo đức suy đồi !
Nguyễn
Phú Trọng, một người cầm chịch quyền lực hiện nay, đã bị tha hóa đạo đức
nên không dám nhìn thẳng vào sự thực
này, cho nên đã đưa ra các định đề về chính trị, kinh tế, nội trị và đối
ngoại rất sai lầm và độc hại dùng làm Cương lĩnh Chính trị 2011 đã được
ông giải thích trong bài „Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ
Cương lĩnh năm 1991 đến nay” và đang được đưa vào
chương trình làm việc của Hội nghị Trung ương 13 sắp họp để chuẩn bị cho
Đại hội 11 vào đầu năm 2011.
Trong
đó Nguyễn Phú Trọng chỉ lập lại những luận điểm đã cổ lỗ sĩ cả một thế kỉ
trước, nó đã sai lầm và lỗi thời và đã bị thực tế phủ nhận ở ngay các nước
đã từng là cái nôi của của chế độ Cộng sản. Trên cơ sở đó ông ta lại vẫn gân cổ đưa
ra đòi hỏi ngang ngược „Đảng cầm quyền“
cho Đảng Cộng sản, tức là giành độc quyền tiếp tục cho bọn quan tham nhũng,
bất tài và vô đức !
Nếu những quan điểm sai lầm, vọng
ngoại, phản động và phản dân chủ như thế của Nguyễn Phú Trọng vẫn trở
thành nền tảng của Cương lĩnh Chính trị 2011 của „Đảng cầm quyền“ thì sẽ
đẩy lùi VN vào đêm dài vô tận như thời Trung cổ và là một mối nguy rất lớn
trước mắt và lâu dài cho toàn dân tộc VN về nhiều mặt:
-
Đây sẽ là một sự phản bội
linh hồn hàng triệu bộ đội và đồng bào suốt mấy thế hệ qua đã hi sinh vì
nghe lời kêu gọi yêu nước để xây dựng một nước VN thật sự tự do, dân chủ
và phú cường!
-
Đây sẽ là bước cản tiến
trình đồng thuận dân tộc cần có, nếu muốn VN sớm vươn lên sánh vai cùng
các dân tộc văn minh trên thế giới!
-
Đây sẽ là một sự kìm hãm
xã hội VN tiếp tục bị kiềm tỏa trong độc tài bạo lực, tụt hậu về kinh tế,
thoái hóa đạo đức!
-
Đây sẽ là cách mở cửa tốt
nhất để phương Bắc có thể thôn tính VN theo kiểu mới không cần tới bom đạn!
Màn đêm bạo ngược dã man như
thời Trung cổ đã bao phủ VN gần 60 năm. Nhưng đối với bạo quyền thế vẫn
chưa đủ, „thời kì quá độ“ man rợ
này vẫn chưa biết bao giờ chấm dứt! Cho nên Nguyễn Phú Trọng vẫn muốn kéo
dài nó như trong Cương lĩnh Chính trị 2011 đã ghi rõ. Nó sẽ là kim chỉ
nam hành động của bạo quyền trong các thập niên tới!
Tương lai VN và số phận con
cháu chúng ta sẽ đi về đâu ? Câu trả lời cho vấn đề cực kì quan trọng và
cấp thiết này thật rất rõ ràng: Không thể để những phần tử độc tài, tham
nhũng và thần phục Bắc kinh thao túng đất nước tiếp tục được nữa! Đã đến
lúc các thành phần trí thức, chuyên viên và thanh niên, kể cả những đảng
viên Cộng sản còn biết quí lòng tự trọng và nhiệt huyết với đất nước, phải
kề vai sát cánh với nhân dân ngăn chặn những ý đồ đen tối đang dự tính
thi thố trong Đại hội 11 sắp tới! ♣
Tài liệu
·
Sự
phát triển nhận thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay
·
Những
định hướng bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991
·
Cuonglinh2011.doc.
(TTXVN 14.9)
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát
triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|