DC&PT - Thời Sự 2010

 

 

TÌNH TRẠNG LẠM PHÁT HIỆN TẠI

VÀ DỰ ĐOÁN CHO TƯƠNG LAI 2010

 

 

Đinh Xuân Quân

 

 

Các báo cáo trong năm qua cho thấy một trong những khó khăn kinh tế của VN hiện nay là: lạm phát, thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại, yếu kém về cạnh tranh.

 

Trong năm 2010, chỉ số CPI (Consumer Price Index) hay chỉ số lạm phát được ước lượng là sẽ là 7% và tăng trưởng trung bình GDP là 6.5%.  VN nay được xếp vào nhóm các nước có lợi tức hạng trung (> $1,000) và việc này đem VN đứng trước các thủ thách mới. 

 

Từ khi gia nhập WTO năm 2007 VN đã tăng cường các quan hệ kinh tế quốc tế, vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và kiều hối gia tăng mau chóng.  Nhờ vậy tăng trưởng kinh tế cao.

 

Những thử thách cho VN trong năm 2010 gồm: (1) giải quyết/kiềm chế lạm phát và quản lý kinh tế tốt; (2) giải quyết tham nhũng; (3) giảm hố ngăn cách giàu-nghèo càng ngày càng mở rộng; (4) tăng sức cạnh tranh của kinh tế VN; (5) chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ bị xâm phạm – yếu hèn trước hiểm họa bành trướng của Trung quốc và còn mở rộng bòn rút khai thác nhiều hầm mỏ và tài nguyên tại VN.

 

Đầu 2010 Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng nói “…Tác động tổng hợp của những yếu tố lạm phát, giá lương thực, xăng dầu và giá hầu hết các mặt hàng nhập khẩu tăng mạnh, đẩy mặt bằng giá trên thị trường nội địa lên cao.  Mặt khác, chính sách tài chính, tiền tệ được nới lỏng trong nhiều ngày đã làm chỉ số giá tiêu dùng ở nước ta tăng nhanh lên hai con số, cao hơn một số nước trong khu vực, sản xuất và đời sống gặp nhiều khó khăn, gây lo lắng và phân tâm trong xã hội…” 

 

Theo Cục Thống kê công bố ngày 22/2, tốc độ tăng CPI tháng 2 của Saigon đã đạt mức tăng 1,68% hay mức tăng cao nhất trong 17 tháng qua.  Nguyên nhân là giá cả bị tăng mạnh trong những ngày áp Tết và sau Tết. Cũng theo Cục Thống kê tại Saigon thì mức tăng bình quân một tháng của CPI đã lên tới xấp xỉ 1,46%, trong khi cùng kỳ năm 2009 chỉ mới có 0,67%.

Việc trong tháng 1/2010, mức tăng CPI lên đến 1,36% so với tháng 12/2009 đã trở một áp lực mạnh mẽ cho VN so với mục tiêu 7% cho năm 2010.


Mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức dưới 7% là một thách thức vô cùng gay go cho 2010.  Những yếu tố nào giúp lạm phát? Ảnh hưởng của lạm phát trên dân chúng? Có thể làm gì để giảm hậu quả của lạm phát?     

  

 

I. LẠM PHÁT TRONG NĂM 2009 - 2010

 

Tăng trưởng kinh tế của VN trong 2009 bị ảnh hưởng mạnh của tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu. Nó ảnh hưởng qua: 1) Giảm xuất khẩu (giầy dép, may mặc, vv); 2) Giảm đầu tư FDI và kiều hối (giảm 20% ước lượng từ 7.2 tỷ vào 2008 còn 6-6.8 tỷ năm 2009); 3) Giảm chi tiêu du khách (khách du lịch quốc tế chỉ đạt 3,8 triệu lượt người giảm 11.8%).

  

Tăng trưởng GDP VN

VN

2006

2007

2008

2009

2010*

 

 

 

 

 

 

GDP/Năm

8.4

8.5

6.1

5.25 

6.5*

                        Nguồn và dự đoán của IMF * Mục tiêu VN

 

CPI (Tỷ lệ lạm phát tại VN) 

 

2007

2008

2009

2010

 

 

 

 

 

 

12.6

28.25

17.50

7** - 10-12*

                                   Nguồn: IMF reports 2009      *ước đoán            ** Mục tiêu VN

 

Trong 2009, chính phủ đưa ra gói “kích thích kinh tế”[1]/ gồm các chính sách về tài chính – tăng tín dụng 38%/năm, miễn, giảm, giãn thuế, hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay sản xuất, kinh doanh, mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ nông nghiệp, các khoản vay của hộ nghèo và đối tượng chính sách..).  Gói này không có hiệu quả cao vì nhằm vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và khu vực công, ít ảnh hưởng đến khu vực tư và nhỏ.  

 

Trong năm 2010, chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng GDP là 6,5% và nếu theo tình trạng hiện tại thì tăng trưởng tín dụng sẽ phải là 44% trong khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN)  khẳng định mức tăng trưởng tín dụng sẽ ở mức 25%. Đây sẽ là bài toán nan giải mà các cơ quan VN cũng như các địa phương phải để ý nếu không muốn CPI tăng quá 7%.


1. Nguyên nhân Lạm phát

 

Trong năm 2010, chính phủ đã cho tăng giá xăng giá dầu và dự trù tăng giá một số món như điện (vì giá sản xuất than tăng), nước, vv.  Những nguyên nhân dẫn tới việc tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI = tỷ lệ lạm phát) là gì? 

 

1.      Nguyên nhân chính của lạm phát là VN trong thời gian qua nhận  nhiều vốn [2]/ từ bên ngoài khoảng 22-23 tỷ USD (tương đương 30% GDP).  Do đó Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) tăng cung tiền, tăng tín dụng, và đầu tư khu vực công đều đạt mức kỷ lục với các DNNN.  Đầu tư vào DNNN có hiệu quả thấp. Khi số tiền đổ vào nền kinh tế quá cao, lại không được sử dụng một cách hiệu quả để sản xuất sẽ đi đến tình trạng “quá nhiều tiền nhưng quá ít hàng” và hậu quả dĩ nhiên là “lạm phát.”

 

Như vậy chiến lược tăng trưởng của VN dựa vào đầu tư (duy trì tỷ lệ đầu tư nội địa cao hơn tỷ lệ tiết kiệm nội địa) và nhất là vào các DNNN nên đã gây lạm phát.    

 

2.      Nguyên nhân thứ 2 là thâm hụt ngân sách.  Kinh nghiệm quốc tế cho thấy là thâm hụt ngân sách trên 5% bị coi là đáng “nguy hiểm” trong khi thâm hụt ngân sách của VN ở mức 8.75% GDP vào 2009.  Nếu tính các khoản chi ngoài ngân sách trong mấy năm gần đây thì thâm hụt ngân sách lên tới 20-25% tổng ngân sách, một tỷ lệ rất cao. Nguyên nhân của thâm hụt ngân sách là chương trình đẩu tư cho khu vực công cao - VN đã phê chuẩn một danh sách các dự án đầu tư công đầy tham vọng từ nay cho tới 2015 với tổng số vốn ước tính lên tới 70 tỷ USD.  Thâm hụt ngân sách không tạo ra hiệu quả mong muốn vì thất thoát và tham nhũng. 

 

3.      Nguyên nhân thứ ba là các đầu vào (điện, nước, xăng, than,vv.) làm cho giá cả “đầu vào” tăng. Theo Bộ Công thương thì tác động của việc tăng giá điện sẽ ở mức 6,8% - tương ứng với giá than - giá thành sản xuất than đã được Kiểm toán Nhà nước xác nhận. Việc tăng giá, theo chính phủ, sẽ giúp thực hiện lộ trình về giá theo cơ chế thị trường, tiến tới việc bỏ “bao cấp” qua giá như đối với giá điện, giá than; giúp ngành điện, ngành than tự chủ trong sản xuất kinh doanh.  Theo tính toán thì việc này sẽ làm giảm tốc độ tăng GDP 0,28% và tỉ lệ tăng CPI trực tiếp khoảng từ 0,17- 0,22%.

 

4.      Nguyên nhân thứ 4 là NHNN phá giá 3.3% đồng VN.  Ai cũng biết là khi phá giá đồng bạc, các “đầu vào” cho công nghiệp (xăng, ciment, sát, thép, sợi, vv.) và nông nghiệp (thuốc trừ sâu, phân bón) bằng tiền VN sẽ tăng và sẽ ảnh hưởng đến các mặt hàng khác.  Nhiều món hàng này phải nhập và như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá thành. Hàng hoá cũng như nguyên liệu nhập khẩu sẽ bị “đội” thêm chi phí do việc điều chỉnh tăng tỉ giá USD.  Ngược lại nó cũng sẽ giúp giảm thâm hụt cán cân thương mại bằng cách giảm nhập khẩu xa xỉ. 

 

5.      Nguyên nhân thứ 5 là trong những ngày Tết Nguyên đán hàng hóa và giá dịch vụ tăng. 

 

Tóm lại, tác động tổng hợp của những yếu tố gây lạm phát như giá lương thực, xăng dầu, giá cả trong những ngày Tết Nguyên đán, việc tăng giá hàng hoá tiêu dùng, cùng với việc tăng tỉ giá ngoại tệ, chuẩn bị tăng giá điện, than, nước làm cho hàng loạt giá dịch vụ và hàng hóa đua nhau tăng giá.

 

Hơn nữa năm nay, để chuẩn bị Đại Hội Đảng (ĐHĐCS) vào đầu năm 2011, sẽ có tăng lương, nhưng cũng bãi bỏ các biện pháp miễn giảm thuế của năm 2009.  Trong bối cảnh như vậy, VN sẽ khó mà giữ lạm phát ở mức 7%.

 

2. Hậu quả xấu của lạm phát & tăng trưởng kinh tế

 

Trước hết vì NHNN phá giá tiền, hàng của VN sẽ rẻ hơn và có sức cạnh tranh với hàng Thái lan và các nước ĐNA khác.

 

Nếu kinh tế thế giới tăng trưởng như dự đoán, và nhu cầu kinh tế bên ngoài mạnh hơn sẽ giúp việc tăng xuất khẩu.  Trong trường hợp này kiều hối sẽ tăng vì nền kinh tế của các nước đã cải thiện.  Cán cân thanh toán thương mại có thể chuyển từ “âm” thành “thặng dư” nếu vốn đầu tư FDI vào VN tăng như dự kiến.  Rủi ro đối với trường hợp này là sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu yếu hơn dự tính.  Nó sẽ kiềm chế sự tăng trưởng kinh tế ở VN và sự tăng giá cả hàng hoá thế giới có nghĩa là sự lạm phát tăng lên.

 

Thường khi có lạm phát, một số các nhà sản xuất có thể tăng giá trong khi đó đa số người tiêu thụ phải gánh chịu.  Việc này sẽ có một số giới bị thiệt thòi:

 

Hậu quả thứ 1 sẽ là ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu công nhân có đồng lương cố định. Mức sống của công nhân sẽ giảm vì lương cố định cho nên không thể theo kịp giá cả leo thang trên thị trường.  Do đó nếu lạm phát tăng thì sẽ có thề có nhiều vụ đình công đòi tăng lương – gây nhiều xáo trộn xã hội

 

Hậu quả thứ 2 sẽ là ảnh hưởng trực tiếp đến hàng chục triệu nông dân VN và mức sống của nông dân VN sẽ giảm. Nông dân luôn bị các DNNN ép giá khi mua lúa gạo.  Mặc dù năm ngoái VN xuất 6 triệu tấn gạo, nhưng theo các con số trong nước thì mức sống nông dân không mấy tăng. Ngoài ra giá các đầu vào (sát trùng, phân bón) tăng cho nên lợi tức nông dân sẽ bị ảnh hưởng.  Mặc dù gía gạo trên thế giới còn ở mức $480 mức sống của nông dân VN không mấy khá.   

 

 

II. CÓ THỂ LÀM GÌ?

 

Lạm phát ảnh hưởng rất nhiều đến người tiêu thụ và các doanh nghiệp sản xuất.  Lý tưởng là về vĩ mô chính phủ có thể quản lý một cách tốt nghĩa là giảm thâm hụt ngân sách bằng cách thực thi chương trình đầu tư công một cách hữu hiệu (Ví dụ như nhà máy lọc dầu Dung Quất tốn $3 tỷ mà vẫn chưa sản xuất trong lúc đó vẫn phải trả nợ - tham nhũng trong các công trình hạ tầng cơ sở), tín dụng phải được dùng vào các đầu tư sản xuất chứ không phải vào việc đầu cơ trong địa ốc hay trong thị trường chứng khoán, các DNNN cần cần tập trung vào lĩnh vực hoạt động của mình, và tăng khả năng cạnh tranh của kinh tế VN.  Vậy trong ngắn hạn có thể làm gì?  Trong trung hạn làm gì?    

 

Trong ngắn hạn: Tăng cường chính sách quản lý tiền tệ

 

Trong năm 2009, tín dụng dự kiến chỉ tăng có 25%, nhưng trong thực tế đã tăng lên 38% - để đạt được mức tăng trưởng kinh tế là 5.32%.  Nếu ta dùng tiêu chuẩn đó thì cứ phải tăng 7% tín dụng mới đạt được 1% tăng trưởng GDP.  Như vậy tín dụng phải lên 44%.  Việc này sẽ gây lạm phát.

 

Trong năm 2010, chính phủ muốn đạt được mức tăng trưởng GDP là 6.5%, nhưng dự kiến là mức tín dụng lại chỉ tăng 25% như kế hoạch của năm 2009.  Việc này cho thấy là khó tăng trưởng GDP nếu tín dụng ở mức 25% ngoại trừ các DN tăng hiệu năng trong đầu tư.  Việc phá giá đồng bạc để giúp hàng VN cạnh tranh – giảm nhập khẩu và việc tăng lãi suất lên 8% sẽ là một bài toán khó cho việc quản lý tiền tệ - tín dụng để giữ mức lạm phát ở 7%.   

 

Trong ngắn hạn, VN sẽ phải có chính sách tiền tệ để các DN có hiệu năng làm việc cao.  NHNN đã cho phép các ngân hàng cho vay bằng cách thương thuyết qua hợp đồng – nghĩa là với lãi suất cao hơn 8% như NHNN ước tính.  

 

Ngoài ra VN có thể làm chậm lại các chương trình đầu tư khu vực công để giảm phần nào thâm hụt ngân sách và mặt khác tăng thuế đánh trên các xa xỉ.

 

Nhiều ngân hàng nước ngoài dự đoán lạm phát sẽ gia tăng cao tại VN. Ngân hàng HSBC cho rằng, áp lực lạm phát sẽ trở thành vấn đề lớn khi giá dầu và thực phẩm tăng. HSBC dự báo tăng trưởng GDP cả năm 2010 sẽ đạt 6,8%; lạm phát 8% và lãi suất cơ bản sẽ là 12%. Theo Ngân hàng SCB (Standard Chartered Bank), tỉ lệ lạm phát của VN sẽ ở mức một con số, đứng ở mức trung bình 8,9% trong năm 2010 và lên mức 10% ở thời điểm cuối năm 2010.  Theo IMF thì VN cần giám sát chặt chẽ tình hình lạm phát, đặc biệt khi giá hàng hoá tiếp tục ở mức cao trong năm 2010.  Theo ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á thì lạm phát có thể trở lại 2 con số

 

Muốn chống lạm phát thì phải gia tăng khả năng cạnh tranh là quan trọng nhất và cần tiếp tục cải cách các DNNN để có hiệu năng cao hơn.

 

Tăng khả năng đầu tư khu vực công/DNNN

 

Hiện nay kinh tế VN có vẻ càng bị thống trị bởi các tập đoàn kinh tế nhà nước (DNNN) đã cải cách từ 1994 nhưng tới nay vẫn chưa xong.  TCT như Petro Việt Nam, Vinashin, và EVN đang thành lập hay kiểm soát một số ngân hàng, tức là mở rộng lãnh địa của mình[3]/ qua các lãnh vực ngoài phạm vi của họ. Nhưng việc xếp hạng năng lực cạnh tranh của “Diễn đàn Kinh tế Thế giới,” cho thấy VN còn thua hầu hết các láng giềng Đông Á và Đông Nam Á.

 

Việc năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh yếu của các DNNN và khả năng trả nợ thấp của họ sẽ làm khu vực ngân hàng bị liên lụy. Tính theo ICOR (chỉ số đầu tư trên sản sản xuất) thì ICOR của VN đi tư 3.5 lên đến 8 nghĩa là phải đầu tư 8 đồng mới làm ra được 1 đồng.  Đây là một cơ chế kém hiệu quả.  Làm sao đầu tư hữu hiệu hơn?  Bớt tham nhũng sẽ giảm 30% giá phải trả cho việc làm “businet,” các DNNN chỉ làm trong lĩnh vực của mình còn các cơ hội khác nên dành cho các doanh nghiệp tư,.. Việc này sẽ giúp đầu tư có hiệu quả hơn trong đầu tư.  

 

Vì cơ cấu quản trị các TCT theo kiểu XHCN (độc quyền, thiếu kiểm soát), đổ tiền vào DNNN sẽ không giải quyết được những vấn đề cơ bản của khu vực công - DNNN.  Kinh nghiệm các “con hổ” Á châu cho thấy là họ thành công vì:

 

§         Có sự cách biệt giữa các chính sách phát triển và nhóm lợi ích đặc biệt như TCT);  

§         Chính phủ những nước này xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế, đầu tư thích đáng cho giáo dục, y tế, và an ninh công cộng và kinh tế vĩ mô được điều hành bởi những chuyên viên với mục tiêu phát triển đất nước.

§         Tôn trọng pháp luật và việc độc lập của hệ thống tư pháp - không bị chi phối bởi các thế lực chính trị hay đảng phái. Nó gây một môi trường tốt cho kinh tế và đầu tư và đề cao việc chống tham nhũng.

§         Các quyết định được dựa trên những phân tích chính sách có chất lượng, trong suốt và kịp thời. Có tranh luận trong và ngoài chính phủ về nội dung và đường hướng của chính sách kinh tế.  Nhờ vậy tham những ở mức thấp.

 

VN theo mô hình XHCN thì “hiệu năng nhà nước” thấp. Vậy trong ngắn hạn cần có những đòn bẩy để nâng cao hiệu quả kinh tế và cắt giảm chi phí của các DNNN. Nếu bớt chi phí thì thâm hụt ngân sách sẽ giảm. 

 

Trong trung hạn thì phải tiếp tục cải cách các TCT và DNNN.  Nay các địa phương có quyền đầu tư vào một số DN và các quyết định đầu tư trong khu vực công cần rà xét thêm để có hiệu năng kinh tế và tài chính cao.  Các doanh nghiệp dính vào địa phương cần được rà xét để tránh vấn đề quyết định đầu tư hấp tấp

 

 

TẠM KẾT

 

Năm 2010 cho thấy nhiều biến đổi nhưng còn có nhiều rủi ro đối với VN.  Bộ Kế hoạch đưa ra các ước tính tăng trưởng kinh tế 6,5% mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức 25%.  VN cũng mong đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 10% so với 2009.

 

Nhưng chính sách tiền tệ bất cập và quản lý khu vực công rất yếu cho thấy kinh tế VN khó giữ lạm phát ở mức 7% mà có nhiều rủi ro mức lạm phát cao hơn nhiều.  Việc này sẽ gây nhiều mối lo âu cho các nhà đầu tư nhất là năm 2011 sẽ có ĐHĐCS.   

 

Theo tác giả thì tình hình 2010 không hoàn toàn 'lạc quan' nhất là về kiềm chế lạm phát và quản lý kinh tế.  Chính phủ có thể thực thi chậm các chương trình đầu tư công và tăng thuế trên một số hàng.  Lạm phát, hiệu năng kinh tế thấp, thâm hụt thương mại và ngân sách là các yếu kém và cũng là các thử thách lớn cho VN.  Trong trung hạn, việc cải cách cơ cấu là quan trọng nhất là các DNNN và việc cải cách quy trình lựa chọn các dự án đầu tư trong khu vực công (PIP – Public Investment Priority Program) là một quy trình cần thiết.       

 

Các yếu tố kinh tế (lạm phát, giá cả, hối suất, tín dụng, vv.) dính liền với nhau, nên kinh tế VN trong 2010 sẽ không mấy lạc quan trong việc giữ lạm phát ở mức 7% và tăng tín dụng 25%.     

 

TS Đinh Xuân Quân  

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục

 



[1]/ Gồm việc nới lỏng lãi suất, tiền tệ và thuế.  

[2]/ Bao gồm FDI thực hiện (4,7 tỷ USD), đầu tư gián tiếp (5-6 tỷ USD), kiều hối (7-8 tỷ USD), ODA giải ngân (2 tỷ USD), chi tiêu của du khách quốc tế (3,3 tỷ USD).

[3]/ Đây là quan sát của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong bài báo nhan đề: “Thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế.” Xem http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=216&sobao=867&sott=5