|
DC&PT -
Thời Sự 2010
TÌNH TRẠNG KINH TẾ VIỆTNAM
NĂM 2009
VÀ DỰ ĐOÁN CHO
TƯƠNG LAI 2010
Đinh Xuân
Quân
Theo Ngân Hàng Thế Giới
(WB) VN là một “thành công” - tăng trưởng
trung bình 7.3% trong thời gian 1995-2005 và tăng trưởng đầu người là
6.2%/năm[1]/.
GDP/đầu người tăng từ $260/người/năm vào 1995 lên $1,000/người/năm vào
2009. Theo WB [2]/ từ khi vào
WTO năm 2007 VN nay xuất khẩu rất nhiều hàng may mặc, giầy dép, bàn ghế,
vv.
Theo Thủ Tướng Nguyễn tấn
Dũng thì “…Hai năm 2008-2009, nhân dân ta, đất nước ta phải đương đầu và
vượt qua nhiều khó khăn, thách thức gay gắt do những biến động bất thường
và trái chiều của kinh tế thế giới, làm nặng nề thêm những yếu kém nội
tại của nền kinh tế và làm hạn chế khả năng lựa chọn chính sách ứng phó
và phát triển của chúng ta.
…. Tác động tổng hợp của
những yếu tố lạm phát, giá lương thực, xăng dầu và giá hầu hết các mặt
hàng nhập khẩu tăng mạnh, đẩy mặt bằng giá trên thị trường nội địa lên
cao. Mặt khác, chính sách tài chính, tiền tệ được nới lỏng trong
nhiều này đã làm chỉ số giá tiêu dùng ở nước ta tăng nhanh lên hai con
số, cao hơn một số nước trong khu vực, sản xuất và đời sống gặp nhiều khó
khăn, gây lo lắng và phân tâm trong xã hội…”
Nghiên cứu của ĐH Havard [3]/
ngược lại cho rằng, VN còn nhiều yếu kém và tốc độ tăng trưởng sẽ giảm
xuống nếu không thay đổi “cơ cấu.” Dự báo của EIU cho thấy trong
giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng trưởng của VN chỉ có thể duy trì ở mức
5,1% mỗi năm, thay vì ở mức trên 8% như hiện nay. Thực tế ra sao?
I. KINH TẾ VN TRONG NĂM
2009
VN nay đạt mức $1,000/đầu người/năm
được xếp vào nhóm các nước có lợi tức hạng trung (> $1,000). Việc
gia nhập WTO năm 2007 đã giúp VN tăng cường các quan hệ kinh tế quốc tế.
Vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và gián tiếp của Việt Kiều còn gọi là Kiều hối
gia tăng và khu vực tài chính đã được mở rộng. Năm 2008 & 2009,
kinh tế VN đã bước vào một giai đoạn đầy nguy cơ bất ổn vì những dao động
của kinh tế toàn cầu.
Tăng trưởng
GDP VN
|
VN
|
2006
|
2007
|
2008
|
2009*
|
2010*
|
|
|
|
|
|
|
|
|
GDP/Năm
|
8.4
|
8.5
|
6.1
|
5.25* - 5.3**
|
<6*
|
* Nguồn
và dự đoán của IMF ** Theo VN
Tăng trưởng kinh tế của VN bị
ảnh hưởng nặng nề vì tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ ảnh hưởng
đến VN qua việc: 1) Giàm xuất khẩu (giầy dép, may mặc, vv); 2) Giảm đầu
tư FDI và kiều hối (giảm 20% ước lượng từ 7.2 tỷ vào 2008 còn 6-6.8 tỷ
năm 2009); 3) Giảm viện trợ ODA; và 4) Tiền tiêu du khách sẽ giảm (khách du lịch quốc tế chỉ đạt 3,8 triệu lượt người giảm
11.8%)
VN đã đưa ra một gói “kích thích
kinh tế”[4]/
(các chính sách về tài chính, tiền tệ, miễn, giảm, giãn thuế, hỗ trợ lãi
suất đối với các khoản vay sản xuất, kinh doanh, mua máy móc, thiết bị,
vật tư phục vụ nông nghiệp, các khoản vay của hộ nghèo và đối tượng chính
sách..) nhưng những gói này không có hieu quả cao vì nhằm vào các DNNN và
khu vực công. Trong năm 2009 kinh tế VN
đang trong tình trạng “nóng” và lạm phát vẫn tiếp tục gia tăng, thâm hụt
ngân sách và thương mại ngày càng lớn, và bong bóng giá bất động sản ngày
càng lớn gây them nhiều khó khăn trong tương lai nhất là những yếu kém cơ
cấu. Nói tóm, tăng trưởng có thấp nhưng cũng không quá bết
và gần đây, VN thành công trong việc được hứa USD 8 tỷ viện trợ ODA.
1. Lạm phát
Việc tăng giá dầu và một số
hàng trên thế giới là những nguyên nhân dẫn tới việc tăng chỉ số giá tiêu
dùng (CPI = tỷ lệ lạm phát). Nhưng lạm phát tại VN chủ yếu xuất là do
cơ cấu của kinh tế VN vì các nước láng giềng TQ, Thái Lan, Malaysia … cũng
đều phải chịu sức ép tương tự nhưng lạm phát ở các nước này lại thấp hơn
một cách đáng kể, không lên đến hai số như ở VN
CPI (Tỷ lệ lạm
phát tại VN)
|
|
2007
|
2008
|
2009
|
2010
|
|
|
|
|
|
|
|
|
12.6
|
28.25
|
17.50
|
10-12*
|
Nguồn: IMF reports 2009 *ước đoán
Tại sao lạm phát? Nguyên
nhân chính của lạm phát là VN nhận quá nhiều vốn [5]/ từ
bên ngoài khoảng 22-23 tỷ USD (tương đương 30% GDP). Do đó Ngân
Hàng Nhà Nước (NHNN) tăng cung tiền, tăng tín dụng, và đầu tư khu vực
công đều đạt mức kỷ lục với các Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN) với hiệu quả
thấp. Khi số tiền đổ vào nền kinh tế quá cao,
lại không được sử dụng một cách hiệu quả để sản xuất sẽ đi đến tình trạng
“quá nhiều tiền nhưng quá ít hàng” và hậu quả dĩ nhiên là “lạm phát.”
Từ 2005 đến 2007, số tiền tăng
tổng cộng 135% trong khi đó GDP chỉ tăng 27%. Chiến lược tăng trưởng
của VN dựa vào đầu tư (duy trì tỷ lệ đầu tư nội địa cao hơn tỷ lệ tiết kiệm
nội địa) đã gây lạm phát.
Tại sao giá đất lại cao và
tăng nhanh như vậy? Tác giả này có viết nhiều trong quá khứ và
giống phần nào trường hợp của Nhật trong những thập niên 70. Trong nhiều
năm, VN đã không giải quyết nhu cầu địa ốc cho nên có tình trạng thiếu
thăng bằng giữa “cung- cầu” về địa ốc gây việc giá nhà cao. Mặc dù lợi tức
kém hơn nhiều nước láng giềng nhưng giá bât động sản và địa ốc tương
đương Nhật hay Mỹ. Đây là bằng chứng về mức độ bong bóng của giá
bất giá động sản/dịa ốc ở VN.
Nguồn tiền US$ dồi dào - gói
“kích thích kinh tế” - “dễ dãi tín dụng” đã làm tăng nhập khẩu và lạm phát,
khiến cho một phần lớn nguồn lực kinh tế bị chuyển sang mục đích “phi sản
xuất - đầu cơ.” Các yếu tố này giúp tăng tín dụng đầu tư địa ốc/bất
động sản. Tiền do tham nhũng và thất thoát
trong đầu tư xây dựng Hạ tầng cơ sở (HTCS) cũng được đầu cơ vào địa ốc.
Bong bóng tăng thêm vì các DNNN không cần thế chấp cũng có thể vay
NH được – hậu quả là di chuyển nguồn lực từ các lĩnh vực kinh doanh sang
hoạt động “đầu cơ bất địa ốc.”
Việc này sẽ gây những rủi ro
cho hệ thống tài chính ngân hàng (giống như trường hợp Mỹ & Nhật - ngân
hàng thương mại cho các nhà đầu cơ và phát triển vay địa ốc dựa trên tài
sản thế chấp với giá đã được thổi phồng. Với những yếu kém hiện nay,
hệ thống tài chính VN rất có thể nguy cơ gặp “sóng gió” như bài của GS
Kenichi Ohno[6]/
là một phân tích đúng đắn.
2. Thâm hụt ngân sách - Thâm
hụt thương mại – Thiếu sức cạnh tranh
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy
là, thâm hụt ngân sách 3% được coi là lo ngại, trong khi >5% thì bị
coi là đáng “nguy hiểm”. Hiện nay thâm hụt ngân
sách của VN ở mức 8.75% GDP vào 2009. Nếu tính các khoản chi ngoài ngân
sách trong mấy năm gần đây thì thâm hụt ngân sách lên tới 20-25% tổng
ngân sách, một tỷ lệ quá cao.
Tại sao thâm hụt ngân
sách? Đẩu tư khu vực công có hiệu quả kém (vì thất thoát - tham nhũng)
là nguyên nhân gây ra lạm phát và việc lãng phi/kém sức cạnh tranh. VN đã
phê chuẩn một danh sách các dự án đầu tư công đầy tham vọng từ nay cho
tới 2015 với tổng số vốn ước tính lên tới 70 tỷ USD.
Chất
lượng kém của “đầu tư trong khu vực công” vì yếu tố thiếu cạnh
tranh/thiếu đấu thầu. Báo chí VN cũng đưa tin về những dự án
hạ tầng cơ sở (HTCS) bị đội giá … VN phí phạm rất nhiều với một số ví dụ
sau đây:
§ Trong nhiều trường hợp dự án được lựa chọn không dựa
trên các tiêu chuẩn kinh tế - tài chính thích hợp. Ví dụ VN đang
cho đầu tư xây dựng 6 cảng theo bờ biển miền Trung (Khánh Hòa, Bình Định,
Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đànẵng, và Thừa Thiên-Huế) trong khi đó HTCS ở
Saigon, Bình Dương, Đồng Nai, và Bà Rịa–Vũng Tàu, nơi có 60% lượng gia
tăng dân số và lao động của cả nước, đang bị quá tải một cách trầm trọng
nhưng không được đầu tư. Về mặt kinh tế không có lý do chính đáng để đầu
tư vào các cảng nhỏ này vì chỉ có cảng Saigon có hy vọng quốc tế nằm
trong các luồng vận tải hàng hải thế giới.
§
Dự án đầu tư 33 tỷ đô-la cho đường sắt cao
tốc Bắc – Nam quá sớm - sẽ đóng góp không đáng kể trong thời gian này cho
tăng trưởng kinh tế, trong khi gia tăng gánh nặng nợ cho quốc gia và giảm
cơ hội đầu tư cho các dự án khác cấp thiết hơn nhiều.
§
Dự án đầu tư cho nhà máy lọc dầu Dung Quất
đã được trù tính từ 1990 và năm 2009 vẫn chưa sản xuất và chi phí đã nhân
gấp 5 lần so với dự tính lúc đầu $550 triệu (công suất 6,5 triệu tấn mỗi năm/148 ngàn thùng mỗi ngày.)
Theo Petro Vietnam thì
2010, Việt Nam sẽ khởi công xây
dựng nhà máy lọc dầu số 2 tại Nghi Sơn – Thanh Hóa (tại sao?) và
nhà máy lọc dầu số 3 tại Long
Sơn – Bà Rịa – Vũng Tàu với công suất khoảng 10 triệu tấn mỗi năm.
§ Dự án đầu tư cho nhà máy điện hạt nhân ở thời điểm
hiện nay là quá sớm. QH đã thông qua đề
án xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân mặc dù không có thông tin đầy đủ.
Hai nhà máy điện hạt nhân với tổng sản lượng
4,000 megawatts, đặt tại tỉnh Ninh Thuận được dự trù tốn khoảng $11.2 tỉ
USD theo thời giá hối suất hiện nay). Theo tính toán của ông Phùng Liên
Ðoàn, một chuyên gia quốc tế về điện hạt nhân thì từ khi bắt đầu xây dựng
năm 2014 đến khi hoàn thành năm 2020 (như dự trù), tốn phí sẽ lên khoảng
$35 tỉ USD [7]/.
§
Những chương trình như “Một triệu tấn đường” hay “đánh bắt cá xa bờ”
và phong trào xây dựng các khu công nghiệp, và mới đây là “khu kinh tế
trên thực tế” là không đem lại nhiều lợi ích cho người dân ở các khu vực
nông thôn.
Thâm hụt ngân sách cao – là
do các đầu tư khu vực công, và nếu tiếp tục thì sẽ có nguy cơ lạm phát và
thâm hụt thương mại. Hiện nay đầu tư công
chiếm khoảng 18% GDP và 45% tổng đầu tư toàn xã hội và có còn thể cao hơn
nhiều. Qua việc này những “người hay nhóm có thế lực chính trị” thường lợi
dụng các dự án đầu tư công để trục lợi cá nhân và trở nên giàu có một cách
bất chính.
Theo bảng 1 VN và Malaysia là
2 nước sử dụng đầu tư kém nhất. Việc sử dụng vốn một cách yếu kém sẽ ảnh
hưởng đến tương lai và tính cách cạnh tranh của kinh tế VN.
Kinh
nghiệm quốc tế cho thấy là thâm hụt thương mại 5-10% được coi là đáng lo ngại
trong khi VN thâm hụt thương mại khoảng 16% GDP. Mức thâm hụt
hiện nay coi là đáng nguy hiểm. Nếu không có vốn đầu tư, kiều hối
và viện trợ nước ngoài đổ vào ồ ạt trong mấy năm nay thì tình trạng thâm
hụt ngân sách và thương mại ở mức độ nghiêm trọng hơn.
Tại sao thâm hụt thương mại?
Sự phụ thuộc vào FDI (Foreign Direct Investment) - ngoải việc nhập
khẩu các hàng xa xỉ - là một yếu tố thâm hụt. Các Doanh nghiệp (DN)
FDI nhằm xuất khẩu như các DN giầy dép nhập khẩu máy khâu, nguyên liệu để
sản xuất và xuât khẩu. DN điện nhập khẩu các linh kiện để láp ráp. Việc
gia công, gây việc làm nhưng mang hiệu quả và giá trị gia tăng thấp. Hiện
nay trị giá gia tăng hàng nội địa trong xuất khẩu chưa quá 40%. Đây là
khu vực VN cần cố gắng.
Tỷ lệ thâm hụt
thương mại VN/GDP
|
|
2007
|
2008
|
2009*
|
|
|
|
|
|
|
|
-9.75
|
-10.25
|
-16%*
|
Nguồn: IMF reports 2009
Mặc dù được nhiều vốn từ bên
ngoài (kể cả kiều hối) so với các nước Á châu khác, cách sử dụng vốn vay nước ngoài cho thấy VN sử dụng quá
kém, không có sức cạnh tranh. Tỷ lệ ICOR (Incremental capital
output ratio – tỷ lệ số vốn đầu tư và sản xuất) cho thấy VN chưa sử dụng
tốt vốn đầu tư.
Bảng 1: Hiểu
quả đầu tư
|
Xứ
|
GDP %
|
ICOR
|
Việc làm %
|
Xuất Khẩu %
|
CánCân Thương Mại
/GDP %
|
FDI/GDP %
|
CPI %
|
|
VN
1991-2007
|
7.6
|
3.5
|
2.4
|
20.1
|
-8.69
|
5.9
|
12.8
|
|
Nam
Hàn
1969-1988
|
8.4
|
2.8
|
3.2
|
19.2
|
-3.58
|
0.5
|
12.1
|
|
Malaysia
1977-1996
|
7.4
|
4.9
|
3.5
|
11.5
|
2.09
|
4.3
|
3.8
|
|
Thailan
1976-1995
|
8.1
|
3.6
|
3
|
13.9
|
-4.12
|
1.1
|
5.9
|
|
Đai
Loan
1963-1982
|
9.8
|
2.9
|
3.4
|
27.1
|
-2.26
|
-
|
-
|
|
Indonesia
1977-1996
|
7.2
|
2.8
|
2.9
|
4.8
|
2.8
|
0.9
|
9.6
|
|
Philippines
1961-1980
|
5.4
|
2.3
|
3.3
|
6.9
|
-1.8
|
-
|
10.2
|
VN xuất khẩu gạo, café, cao
su, hạt tiêu, đồ biển, vv và sản phẩm công nghiệp nhẹ như quần áo, giầy dép,
trang trí nội thất. Việc này do các doanh nghiêp cỡ nhỏ vá DN nước ngoài trong
khi các DNNN chỉ xuất dầu khí là chính. Khu vực DNNN không tạo ra nhiêu việc
làm, nhưng chiêm gân một nửa trị giá đầu tư doanh nghiệp.
II. NHỮNG YẾU KÉM CỦA VN
- TƯƠNG LAI
Những yếu kém trong năm 2009
chính là: lạm phát, quy trình xét các dự án đầu tư công để giảm phung
phí, thiếu hiệu năng cạnh tranh.
Những nghiên cứu kinh tế phân
tích tại sao một số nước Á châu thành công được tóm trong cuốn “The Asian
Miracle.” Một số chuyên gia cho là tính “thân thiện với thị trường”
của các chính sách kinh tế của các nước Á châu này, trong khi một số
chuyên gia khác tập trung vào vai trò can thiệp của nhà nước trong việc
thúc đẩy công nghiệp hóa. Hai nhóm đều đồng ý vào một số yếu tố
thành công gồm: giáo dục; cơ sở hạ tầng; doanh nghiệp và cạnh tranh quốc
tế; hệ thống tài chính; hiệu năng của Nhà nước; và công bằng xã hội
Nghiên cứu Havard [8]/
đã cập nhật hóa những bài học thàng công để chỉ hướng đi cho VN trong
tương lai.
1. Giáo dục
Hệ
thống giáo dục VN đang khủng hoảng.
Năm 2000, tỷ lệ lao động có bằng đại học chỉ chiếm 2% trong khi tỷ
lệ này là 5% ở TQ và 8% ở Ấn Độ. Vào năm 2005, tỷ lệ sinh viên đỗ đại học
là 16%, trong khi con số này ở TQ và Indonesia là 17%-19%, và 43% tại
Tháilan. Mặc dù số lượng sinh viên đại học đã tăng nhưng những hạn chế về
lượng và chất của các trường đại học VN cho thấy chưa đúng tiêu chuẩn
quốc tế. Ví dụ các giảng viên các trường đại học VN có rất ít bài
đăng trên các tạp chí quốc tế [9]/.
Tuy
số sinh viên ra trường ít, phân nửa sinh viên ra trường không được làm đúng
ngành đào tạo. Ví dụ hãng Intel cần mướn trên 2,000 chuyên
viên thì họ chỉ tìm được dưới 50 người vì không tìm được nhân sự có đủ
tiêu chuẩn kỹ thuật và ngoại ngữ. Hậu quả mỗi năm VN (chính phủ, tổ chức
và cá nhân) chi khoảng 1 tỷ đôla cho việc du học.
Cơ
cấu quản trị theo kiểu XHCN (cách tuyển dụng, đãi ngộ, đề bạt), đổ tiền vào
giáo dục không giải quyết được những vấn đề cơ bản của nền giáo dục VN để
phù hợp với nhu cầu của thị trường trừ khi có thay đổ cơ cấu và GS.
Hoàng Tuỵ đã lập luận một cách thuyết phục [10]/ về vấn đề này.
TQ khuyến khích các trường ĐH
xâm nhập thị trường chất xám, trong khi ngược lại VN chưa sẵn sàng mà lại
còn “quay lung” với các người yêu cầu “cải cách” hay đóng cửa các phương
tiện truyền bá tư tưởng (trường hợp web Tia Sáng). Tình trạng khủng
hoảng trong giáo dục đại học là một trở ngại cơ bản cho sự việc phát
triển của VN trong tương lai.
2. Hạ tầng cơ sở (HTCS)
Xây dựng HTCS là cần thiết cho
sự tăng trưởng kinh tế trong đó có điện và một số HTCS khác. Nếu thiếu
điện, hay nếu giá điện quá cao thì tăng trưởng kinh tế sẽ bị chậm trễ.
Hiện nay chính sách năng lượng của VN có nhiều sai lầm.
Việc “Công ty điện EVN” đầu
tư quá nhiều vào thủy điện đã gây tình trạng thiếu điện trong mùa khô chưa
kể gây “tai hại” trong mùa mưa vì xả nước của các đập như trường hợp Bình
Định vài tháng trước. Việc đầu tư vào “điện hạt nhân” là một ví dụ
khác là đi quá sớm. Các DNNN trong đó có EVN chỉ hoạt động tốt nhất
nếu tập trung vào nhiệm vụ chính (làm ra điện) và thực hiện nhiệm vụ này.
Là một Tổng Công ty (TCT) EVN bị phân tán bởi các hoạt động kinh doanh
ngoại vi (địa ốc hay gây dựng ngân hàng). Muốn giúp tình trạng thiếu điện
cần khuyến khích đầu tư của tư nhân trong lĩnh vực này.
Các dự án đầu tư HTCS còn bị
phung phí hoặc là vì đối tượng của “tham nhũng” và của lãng phí. Trong khi
nguồn lực bị phung phí vào các dự án ít lợi kinh tế, HTCS đô thị tại miền
Nam lại ít được đầu tư và sẽ mang đến tình trạng suy giảm hoạt động kinh tế
của các tỉnh miền Nam.
Chính
phủ VN đang lãng phí rất nhiều tiền của vào các mục đầu tư công kém hiệu quả.
Một trong những nguyên nhân là quyết định đầu tư công (của chính
quyền địa phương và các bộ ngành chủ quản và chịu ảnh hưởng của các nhóm
lợi ích) không được đánh giá một cách thực sự khách quan. Một Hội đồng
thẩm định dự án sẽ này sau đó cần được công bố một cách công khai.[11]/
3. Doanh nghiệp - Cạnh
tranh quốc tế - Tài chính
Từ 1994, VN đã tập hợp các
DNNN để hình thành các tổng công ty (TCT). Mô hình của các TCT là
“mô hình keiretsu” của Nhật Bản (như Mitsubishi, Mitsui v.v.) và mô hình
chaebol của Nam Hàn (như Samsung, Daewoo, Kumho v.v.). Điều khác
biệt quan trọng giữa các chaebol hay keiretsu với các TCT là tính cạnh
tranh quốc tế.
Hiện nay kinh tế VN có vẻ
càng bị thống trị bởi các tập đoàn kinh tế nhà nước. TCT như Petro Việt Nam, Vinashin, và EVN đang thành
lập hay kiểm soát ở một số ngân hàng để mở rộng lãnh địa của mình[12]/ nhưng việc xếp hạng năng lực cạnh tranh của “Diễn
đàn Kinh tế Thế giới,” cho thấy VN còn thua hầu hết các láng giềng Đông Á
và Đông Nam Á.
Vì yếu kém trong quản lý vĩ
mô về tài chính, khu vực ngân hàng sẽ dễ bị liên lụy vì cơ cấu các DNNN.
Cách làm việc các ngân hàng công sẽ ảnh hưởng xấu đến các ngân hang cổ
phần hay tư.
4. Hệ thống tài chính
Sự
lúng túng của VN trong việc đối phó với lạm phát trong năm 2008 và khủng
hoảng toàn cầu năm 2009 chứng tỏ việc quản lý kinh tế vĩ mô có “vấn đề”
và VN thiếu nơi có thể thảo luận, phân tích các chính sách kinh tế tài
chính (trong khi nhóm IDS phải tự giải tán).
Hệ thống tài chính nối giữa
tiết kiệm và đầu tư. Thị trường tài chính (thị trường vốn + thị trường
tiền tệ), tùy thuộc rất nhiều vào niềm tin, vào sự minh bạch và đầy đủ về
thông tin, và vì những lý do đó chính phủ phải đóng một vai trò then chốt
trong việc điều tiết thị trường để giảm thiểu những rủi ro có tính hệ
thống. Vì kinh nghiệm xấu hồi “khủng hoảng tài
chính Á châu” các chính phủ Đài Loan và Nam Hàn cấm các tập đoàn công
nghiệp mở ngân hàng, chống lại việc sáp nhập các thế lực tài chính và
công nghiệp. Tại VN hiện việc này chưa có.
5. Hiệu năng của Nhà nước
Kinh nghiệm các “con hổ” Á
châu cho thấy họ thành công vì:
§ Có
sự cách biệt giữa các chính sách phát triển và nhóm lợi ích đặc biệt;
§
Các chính phủ xây
dựng HTCS kinh tế, đầu tư thích đáng cho giáo dục, y tế, và an ninh công
cộng và kinh tế vĩ mô được điều hành bởi những “Professionals - nhà
chuyên môn” với mục tiêu phát triển đất nước.
§
Tôn trọng pháp luật,
và việc độc lập của hệ thống tư pháp - không bị chi phối bởi các thế lực
chính trị hay đảng phái. Nó gây một môi trường tốt cho kinh tế và đầu tư
và đề cao việc chống tham nhũng.
§
Các quyết định được
dựa trên những phân tích chính sách có chất lượng, trong suốt và kịp thời.
Có tranh luận trong và ngoài chính phủ về nội dung và đường hướng của
chính sách kinh tế. Nhờ vậy tham nhũng ở mức thấp.
Tại VN sự cấu kết giữa “đảng và
nhà nước” trong các đầu tư công có hiệu quả là “hiệu năng nhà nước” thấp,
dìm khu vực tư và gây tham nhũng.
Việc này đi đôi với việc sử dụng hiệu quả
vốn vay nước ngoài và các định chế QT và hơn nữa VN ngày càng phải vay tiền
với mức lãi suất cao hơn (tiền Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế
(IBRD) với thời hạn vay 25 năm, ân hạn 10 năm và lãi suất áp dụng là
Libor (6 tháng) và chi phí quản lý 0,25% tổng số tiền vay).
Trong Bản 1 tỷ lệ ICOR cho thấy, VN còn kém
trong hiệu năng cạnh tranh. Trong việc này, VN có thể vay các định
chế quốc tế để giúp khu vực tư có thêm đầu tư và mở cửa cho cạnh tranh là
cần thiết. Việc này sẽ tăng gia hiệu năng cạnh tranh.
6. Công bằng
VN có tiến bộ nhưng vẫn chưa có một mức sống
“chấp nhận được” theo tiêu chuẩn quốc tế. Muốn
có ổn định xã hội thì VN sẽ phải đảm bảo cho số 30% dân nghèo nhất nước
về các lĩnh vực giáo dục, y tế, và lưới an sinh xã hội.
Y tế có ảnh hưởng quan trọng mà nay người
dân phải gánh chịu một tỷ lệ chi phí y tế cao, vì hệ thống y tế ở xã và huyện
còn kém. Nhiều người không nhận được những chăm sóc y tế sơ đẳng.[13]/
Việc bất bình đẳng ngày càng gia
tăng tại VN và bằng chứng là tỷ số Gini của VN là 0,41[14]/. Ngoài ra VN cũng nên bỏ
chế độ hộ khẩu vì nó đã trở thành một công cụ “hành dân” và từ chối quyền
tiếp cận dịch vụ công chính đáng của người nhập cư
TẠM KẾT
Năm 2009 cho thấy nhiều biến đổi về đối ngoại
và đối nội nhưng về kinh tế VN đã tạm ổn định và thành công trong việc
kêu gọi vốn ODA. Bộ Kế hoạch đưa ra các ước tính tăng trưởng
kinh tế từ 6,5% tới 7% và mục tiêu thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 10% so với 2009.
Cái nhìn của WB về VN là một cái nhìn của
“chủ cho vay” (lướt qua các yếu kém của VN) trong
khi cái nhìn của nghiêm cửu Havard là cái nhìn lâu dài – nhìn về cơ cấu, của
một cơ quan phân tích. Sự thật gần nghiên cứu của Harvard cho thấy VN
còn nhiều yếu kém và cần thay đổi để có tăng trưởng bền bỉ.
Theo tác giả thì tình hình 2010 không hoàn
toàn 'lạc quan' như vậy. Một số tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ quốc tế còn
giữ kẽ, "ngoại giao." Nếu phải đánh giá về quản lý kinh tế trong năm Sửu - 2009, thì VN sẽ được
điểm B- hay B--.
VN đã tránh được khủng hoảng trong
năm 2009 bằng cách đầu tư trên qua gói trợ kích. VN có một số thử
thách chính phải vượt qua : lạm phát, nợ và công bằng xã hội.
Lạm phát, thiếu hiệu năng kinh tế, thâm hụt thương
mại và ngân sách là các yếu kém không chối. Việc này cho thấy quy
trình lựa chọn các dự án đầu tư trong khu vực công (PIP – Public Investment
Priority Program) là một quy trình VN cần tăng hiệu năng. Ngoài ra
lợi ích của sự có mặt của nhiều viện nghiên cứu (như IDS) là rất cần
thiết để giúp phác họa và bàn các chính sách – đóng góp đúng lúc cho VN.
Đánh giá theo các yếu tố thành công của các con
“cọp Á châu” trong các lĩnh vực giào dục, cơ sở hạ tầng; doanh nghiệp và
cạnh tranh quốc tế; hệ thống tài chính; hiệu năng của Nhà nước; và công bằng
xã hội cho thấy VN còn rất kém.
Vì bong bóng địa ốc và bong bóng
chứng khóan - số tiền Kiều hối và đầu tư nước ngoài – vì nhà nước
«bơm » thêm tiền vào các DNNN, cho nên lạm phát tại VN trên hai số.
Trong năm 2008 và 2009 giá địa ốc còn cao hơn nhiều nước tân tiến.
Giá địa ốc, chứng khoán (bong bóng) và giá xăng trên thế giới đã làm
cho lạm phát tăng cao. Việc này làm hại các người tiêu thụ và các người
có lương cố định.
Vấn đề bất công bằng xã hội - hố
giữa người nghèo và giàu cằng tăng. Lạm phát và lương bổng không theo
kịp sẽ gây một tình trạng giữa ngưới giàu tại thành thị, các người công
nhân có lương cố định và nông thôn ngày càng thêm sâu.
Ngoài ra còn vấn đề khai thác
bauxite, uranium, etc. Sang năm Dần – khi kinh tế toàn cầu sẽ sáng sủa hơn, VN sẽ có cơ hội
tiếp tục cải cách – « Hóa rồng hóa cọp » về kinh tế và
nâng cơ hội cho mọi người – giúp khu vực tư tăng trưởng và giảm hố sâu
nghèo giàu giữa nông thôn và thành thị.
TS Đinh Xuân Quân
Ghi
chú:
[1]/ WB Country Overview 2008-2009
[2]/ Trong một vài năm trở lại
đây, Việt Nam đã trở thành “con cưng” của WB. Ngân hàng Thế giới và
nhóm các nhà tài trợ đồng minh của họ làm ngơ trước mọi diễn biến tiêu
cực ở Việt Nam (vì họ cần cho vay) chỉ vì họ cần ít nhất một ví dụ thành
công để chứng minh rằng viện trợ phát triển chính thức (ODA) có tác dụng.
Indonesia trước đây đã từng là “con cưng” của WB cho đến đêm trước
khủng hoảng 1997, và sự rối loạn về chính trị sau đó đã tiêu huỷ triển
vọng tăng trưởng của quốc gia này trong suốt một thập kỷ. VN hiện nay
đang được chọn để diễn vai trò của Indonesia trước đây. Kinh nghiệm của
Indonesia cho thấy, làm “con cưng” có cái “khoái nhất thời” nhưng cái
nguy dài hạn. Sau khi Indonesia thất bại, WB đã không ngần ngại chỉ trích
những thất bại trong chính sách của nước này. .
[3]/ Havard “Choosing success: Lessons from East Asia and SEAsia
countries and future for VN,” Hanoi,
2008
[4]/ Gồm việc
nới lỏng lãi suất, tiền tệ và thuế.
[5]/ Bao gồm FDI thực hiện (4,7 tỷ USD), đầu tư gián tiếp (5-6 tỷ
USD), kiều hối (7-8 tỷ USD), ODA giải ngân (2 tỷ USD), chi tiêu của du
khách quốc tế (3,3 tỷ USD).
[6]/ K. Ohno “Vietnam’s
Recent Inflation and Asset Booms: An External Explanation” .
[7]/ Phùng Liên Đoàn ngày 11/2009 trong mục Ý
kiến bạn đọc - Điện hạt nhân sẽ đắt gấp ba
[8]/ Havard “Choosing success: Lessons from East
Asia and SEAsia countries and future for VN,” 2008
[9]/ Trong năm 2006, 2.830 giảng viên của trường Đại học Chulalongkorn
của Thái-lan đăng được 744 công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa
học quốc tế trong khi đó, 3.360 giảng viên của hai trường Đại học Quốc
Gia Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh chỉ đăng được tổng cộng 36 công trình.
[10]/ Theo ông thi quản trị chứ không phải thiếu tiền là căn
nguyên thất bại của giáo dục đại học và khoa học. ở Mặc dù số
sinh viên ra trường đã ít ỏi, khoảng phân nửa sinh viên ra trường không
được làm đúng ngành đào tạo. Xem bài “Năm mới, chuyện cũ”
trên trang web của Tạp chí Tia Sáng tại địa chỉ http://www.tiasang.com.vn/print?id=1307.
[11] / Tác giả đã làm việc cải tổ kinh tế tại nhiều nước nhằm vào
“quy trình đánh giá các dự án đầu tư” (PIP tại nhiều nước);
[12]/ Đây là quan sát của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong bài báo
nhan đề: “Thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế.” Xem
http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=216&sobao=867&sott=5
[13]/ Có thể hỏi tình trạng này với
các thiện nguyện viên của Project Vietnam thăm VN 3 lần mỗi năm.
[14]/ Một nước có chỉ số Gini từ
0,25 trở xuống được coi là rất công bằng, còn nếu chỉ số này cao hơn 0,50
thì bị coi là rất không công bằng. Chỉ số Gini của Hàn Quốc là 0,32, Đài
Loan và Indonesia là 0,34, Malaysia là 0,40, Thái-lan là 0,42,
Phi-lip-pin là 0,45, và Trung Quốc là 0,47. Về an sinh XH xin xem: “Martin
Evans, Ian Gough, Susan Harkness, Andrew McKay, Đào Thanh Huyền và Đỗ Lê
Thu Ngọc, “An sinh xã hội ở Việt Nam lũy tiến đến mức độ nào?” Nguyên bản: “How Progressive is Social Security in Vietnam,” Hanoi, UNDP Policy Dialogue Paper, 2006.
“Tiền thuê nhà ngầm ẩn” là khoản tiền đáng lẽ hộ gia đình phải trả nếu họ
không có nhà riêng. Vì nhiều hộ gia đình ở nông thôn sở hữu nhà nên khi
cộng khoản thuê nhà ngầm ẩn này vào sẽ có tác dụng làm tăng thu nhập của
họ.
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|