|
Tuy nhiên tất
cả điều này cũng sắp thay đổi. Có một thời các nhà lãnh đạo TQ cố tình cô
lập chính mình để khỏi dính sâu với thế giới bên ngoài; ngày nay họ nhận
ra rằng việc thỏa mãn nhu cầu năng lượng đòi hỏi một chiến lược toàn cầu
năng động hơn. Việc dùng tuyên truyền để cổ vũ một “môi trường quốc tế hoà
bình” trong đó TQ có thể phát triển kinh tế bằng cách lợi dụng nỗ lực ngoại
giao của các nước khác là chưa đủ. Để đảm bảo các đường tiếp liệu cung
cấp tài nguyên thiên nhiên, TQ không những chỉ cần đến một nghị trình
phát triển và mậu dịch có bài bản, mà còn cần đến một chiến lược quân sự
rộng lớn. Người
TQ không còn muốn làm những kẻ thụ động tiếp nhận thông tin từ thế giới
bên ngoài; họ muốn uốn nắn thông tin đó để cho người trong nước và người
nước ngoài sử dụng. Và khi sức mạnh kinh tế của họ bành trướng, họ
không những muốn đảm nhận những vai trò lớn hơn trong các tổ chức quốc
tế, mà lại còn muốn thay đổi qui luật của cuộc chơi.
Những nhà lãnh
đạo TQ nhìn nhận rằng họ đang đứng giữa ngã ba đường và đang phấn đấu để
đưa ra một đường lối mới. Trong một cuộc phỏng vấn với China News
Service, cựu đại sứ Wu Jiamin, một người khôn khéo chính trị, cố gắng hòa
giải luận điệu cũ với thực tế mới: “Vào thời điểm cuộc khủng hoảng tài
chính hiện nay hoàn toàn chấm dứt… rõ ràng là TQ sẽ đóng một vai trò có
ý nghĩa hơn trên thế giới”, ông tuyên bố. “Những gì chúng tôi đạt được
chỉ là bước khởi đầu. Tư tưởng Đặng Tiểu Bình, ‘giữ một hình bóng lu mờ
và cố gắng thực hiện được một điều gì’ vẫn còn có thể áp dụng chí ít đến
cả 100 sau.” Điều mà cái thông điệp khá hàm hồ của Wu báo hiệu là TQ sẽ
đi ra thay đổi luật chơi của thế giới.
Phần còn lại
của thế giới nên biết rằng, chương trình nghị sự mới của TQ sẽ đòi hỏi một
sự quan tâm to lớn hơn để khai thác tính năng động trong nước (internal
dynamics) và triển khai một nỗ lực đối ngoại năng động hơn, phối hợp chặt
chẽ hơn. Thế giới cần đảm bảo rằng TQ biết tôn trọng lợi ích của các quốc
gia khác trong khi TQ tìm cách thỏa mãn nhu cầu của mình. Và nếu Hoa Kỳ
muốn duy trì thế ưu việt của mình, hay chí ít duy trì vai trò khuôn nắn
các qui phạm và giá trị (norms and values) nhằm hướng dẫn thế giới
trong thế kỷ 21, chính sách TQ của Hoa Kỳ không thể chỉ là một phản ứng
đối với các nỗ lực mới mẻ của Bắc Kinh. Chính sách này phải nằm trong một
chiến lược toàn cầu dài hạn, rộng lớn hơn, bắt đầu bằng một sự xác định
rõ ràng các ưu tiên đối nội của Hoa Kỳ. Bước đầu là, trong khi Bắc Kinh
tìm kiếm đường lối để xuất khẩu cuộc cách mạng của mình cho phần còn lại
của thế giới, phần còn lại của thế giới cần phải hành động nhanh chóng
nhằm nắm bắt hình dáng của cuộc cách mạng này và tiên liệu hậu quả của
nó.
Cuộc cách
mạng nội bộ của TQ
Vào cuối thập
niên 70 của thế kỷ trước, nhà lãnh đạo TQ Đặng Tiểu Bình đã bắt đầu tiến
trình “đổi mới và cởi mở”, thúc đẩy một loạt cải tổ mà trên ba thập niên
qua đã tạo được sự thay đổi mang tính cách mạng. Các cơ chế kinh tế, các
mô hình thăng tiến và tương tác xã hội (patterns of social mobility and
interaction), các giá trị xã hội và thậm chí Đảng Cộng sản TQ đều được
chuyển hoá. Dù bằng thước đo nào chăng nữa, cuộc cách mạng của Đặng Tiểu
Bình cũng tạo được một trong những tấm gương thành công kinh tế vĩ đại của
thế kỷ 20.
TQ hiên
nay là nền kinh tế và là nước xuất khẩu đứng nhì thế giới. Nhờ một khu
vực xuất khẩu phát đạt, một nguồn vốn nước ngoài ào ạt chảy vào liên tục,
và một tiền tệ được quản lý (a managed currency), ngân hàng trung ương
và các cơ sở đầu tư nhà nước TQ hiện nắm giữ những lượng ngoại hối to lớn
nhất thế giới. Trong quá trình đổi mới này, hàng trăm triệu người dân
TQ đã thoát được cảnh đói nghèo chỉ trong vòng vài thập niên.
Tuy nhiên, đối với giới lãnh đạo TQ
hiện nay, cuộc cách mạng của họ Đặng đã đến hồi kết thúc. Họ đang phải đối đầu với
hậu quả tiêu cực của 30 năm phát triển không kềm chế: đó là, những chỉ số
ô nhiễm và sự xuống cấp môi trường tăng nhanh, nạn tham nhũng tràn lan,
nạn thất nghiệp tăng vọt (theo nhiều nguồn tin, nạn thất nghiệp ở trong
khoảng từ 9,4% đến 20%), một mạng lưới an sinh xã hội rách nát, và bất
quân bình lợi tức ngày một gia tăng. Gộp lại với nhau, những tệ trạng
xã hội này đã đưa đến trên 100.000 vụ chống đối mỗi năm. Để đối phó với tình hình,
lãnh đạo TQ đang chuẩn bị phát động một loạt cải tổ không kém phần ngoạn
mục [so với những cải tổ của họ Đặng] để một lần nữa thay đổi đất nước
và chỗ đứng của TQ trên thế giới. Nếu mọi việc diễn ra đúng kế hoạch, trong vòng 20 năm hay
có thể sớm hơn, thế giới sẽ không thể nhận ra được nước Trung Hoa tân
tiến này: một xã hội thành thị, đầy sáng kiến, có ý thức môi trường, được
nối mạng, và là một xã hội công bằng.
Nằm ở trung tâm
của cuộc cách mạng tiếp theo này là một kế hoạch theo đó Bắc Kinh sẽ đô
thị hoá 400 triệu người dân trước năm 2030. Năm 1990, mới chỉ 25% dân số
TQ sống trong vùng đô thị; ngày nay con số đó gần được 45% và sẽ lên
70% trước năm 2030. Đô thị hoá TQ sẽ cho phép việc phân phối các dịch vụ
xã hội hữu hiệu hơn và giúp giảm bớt những chênh lệch về lợi tức. Một TQ
đô thị hoá sẽ là một xã hội đặt cơ sở trên khoa học tri thức
(knowledge-based). Vì không còn muốn thấy quốc gia mình là một nhà máy sản xuất
khổng lồ của thế giới, các nhà lãnh đạo TQ đã lao vào một nỗ lực táo bạo
để chuyển đổi đất nước thành một trung tâm sáng kiến hàng đầu. Bắc Kinh
đang hổ trợ lãnh vực nghiên cứu và phát triển; kêu gọi các nhà khoa học
TQ được đào tạo ở nước ngoài trở về để làm thủ trưởng các phòng thí nghiệm
và điều khiển các trung tâm nghiên cứu; và nghiên cứu kỹ lưỡng các mô
hình phát kiến (models of innovation) từng thành công ở Phương Tây.
Các đô thị mới
của TQ cũng sẽ có ý thức môi trường cao (green). Bắc Kinh đang đầu tư hằng
trăm tỉ đôla vào khu vực năng lượng sạch và đang tài trợ cho các nhà sản
xuất trong nước nhằm khuyến khích chế tạo và bán ra các sản phẩm năng lượng
sạch. TQ đã là một trong những quốc gia hàng đầu của thế giới chế tạo
các tua-bin gió (wind turbines) và các pa-nô biến điện mặt trời (photovoltaic
panels). TQ chuẩn bị chiếm nhiều phần đáng kể của thị trường toàn cầu
trong ngành vận chuyển dùng năng lượng sạch (clean-energy transport);
bao gồm đường hỏa xa cao tốc và xe chạy bằng điện. Sau cùng, dân chúng
thành thị TQ sẽ được nối mạng. TQ đang nằm trong một cuộc cách mạng tin học. Khoảng 30%
dân số TQ sử dụng Internet, và hầu hết đều ở đô thị. Trong một cuộc thăm
dò của hãng Gallup vào năm 2009, 42% thị dân TQ cho biết có nối mạng
Internet trong nhà họ, tiêu biểu cho mức tăng vọt 14% chỉ từ năm 2008.
Nói một cách tuyệt đối, có nhiều người nối mạng tại TQ hơn bất cứ nơi
nào trên thế giới.
Thậm chí khi
TQ xúc tiến các kế hoạch táo bạo để chuyển đổi kinh tế và xã hội, nhiều
sức ép và thách thức mới sẽ xuất hiện. Những đòi hỏi tài nguyên cho một
cuộc đô thị hoá nhanh chóng là rất lớn. Một nửa số công trình xây dựng các
cao ốc trên thế giới diễn ra tại TQ, và theo một ước tính, quốc gia này
sẽ xây thêm khoảng 20.000 đến 50.000 nhà chọc trời trong những thập niên
tới. Thượng Hải, vốn là trung tâm đô thị đông dân nhất nước, chẳng bao
lâu nữa sẽ được 10 đô thị vệ tinh (satellite cities) vây quanh – mỗi đô
thị có khoảng nửa triệu dân hay nhiều hơn. Muốn nối tất cả các đô thị này
và nhiều đô thị mới khác trong cả nước phải cần đến 53.000 dặm xa lộ (khoảng
85.000 km). Một khi các đô thị này được xây dựng và nối lại với nhau,
nhu cầu tài nguyên sẽ tiếp tục gia tăng: dân thành thị TQ tiêu thụ nhiều
tài nguyên hơn dân nông thôn (gấp 3,5 lần về năng lượng và gấp 2,5 lần
về nước), gây căng thẳng đáng kể cho các nguồn lực vốn đã hiếm hoi của
quốc gia. Khoảng trước năm 2050, thị dân TQ có thể sẽ tiêu thụ hết 20%
năng lượng toàn cầu.
Khác hẳn với
đồng bào của họ ở nông thôn, thị dân TQ cũng sẽ đưa ra nhiều đòi hỏi chính trị có tổ chức
hơn – để đòi hỏi một môi trường vệ sinh hơn, quyền phát biểu những đề tài
văn hóa rộng lớn hơn, và chế độ quản lý đất nước minh bạch hơn. Xã hội
dân sự đang phát triển mạnh trong các đô thị TQ: các hội chủ nhà, các
nghệ sĩ, các người bảo vệ môi trường và y tế cộng đồng ngày càng khẳng định
quyền sinh hoạt của mình. Nỗ lực gia tăng giai cấp trung lưu TQ lên đến
400 triệu người sẽ mang lại nhiều đòi hỏi hơn và tạo nhiều sức ép chính
trị hơn cho giới lãnh đạo TQ.
Việc dân chúng
sử dụng Internet rộng rãi sẽ tạo thêm nhiều rủi ro cho lãnh đạo TQ bằng
cách gia tăng nguy cơ là, mối bất bình chính trị sẽ sở thành một thách thức có cơ sở rộng
lớn chống lại quyền cai trị của Đảng Cộng sản. Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhìn
nhận đã “lướt mạng” hằng ngày để tìm hiểu các mối quan tâm của người dân,
nhưng chủ tịch Hồ Cẩm Đào lại bày tỏ một số quan ngại về các khả năng
khác của Internet đối với TQ: “Liệu chúng ta có thể đối phó được với Internet
hay không, đây là một vấn đề ảnh hưởng đến việc phát triển văn hóa xã hội
chủ nghĩa, đến an toàn thông tin, và sự ổn định của nhà nước”. Phát biểu
của Hồ Cẩm Đào báo hiệu rằng lãnh đạo TQ ý thức được sự thách đố chính
trị mà Internet có thể đặt ra cho quyền cai trị của họ trong tương lai.
Internet đang
dần dà trở thành một hệ thống chính trị ảo tại TQ: nhân dân TQ tự tìm hiểu
thông tin, tổ chức, và phản đối trực tuyến. Tháng Bảy 2010, các bloggers
đã gửi đi các bản tin đầu tiên về một tai họa ô nhiễm môi trường rộng lớn
tại tỉnh Jilin, có nội dung trái ngược với các báo cáo của chính quyền.
Hàng ngàn người bất chấp sự trấn an của các quan chức, giận dữ lên án họ
đã che đậy sự thật, và lũ lượt đi mua nước đóng chai. Người dân TQ cũng
“biểu quyết” trên mạng. Trong một trường hợp, một ký giả bị cảnh sát
truy nã về tội mạ lỵ, một cáo buộc được dàn dựng, đã tự biện hộ trên
Internet. Trong số 33.000 người được thăm dò ý kiến, có đến 86 phần trăm
cho rằng viên ký giả vô tội. Tờ Người quan sát kinh tế (the Economic
Observer), một tuần san tài chính TQ, sau đó đã tung ra một loạt bài đả
kích cảnh sát, lên án âm mưu đe dọa một “chuyên gia trong ngành truyền
thông”. Nhờ vậy, những cáo buộc nhắm vào viên ký giả bị hủy bỏ.
Những người tranh
đấu cũng sử dụng Internet để phát động nhiều chiến dịch khá thành công
– một số liên quan đến các cuộc xuống đường – để ngăn chặn việc xây đập
thủy điện và các nhà máy gây ô nhiễm, cũng như phản đối việc lấy tiếng
Quảng Đông ra khỏi các chương trình truyền hình được phát tại tỉnh Quảng
Đông. Nổi bật nhất có lẽ là sự xuất hiện một số thần tượng văn hóa dùng
Internet vào mục đích chính trị. Hoạ sĩ danh tiếng Ai Weiwei, chẳng hạn,
đã đi tìm công lý cho các gia đình có con bị chết trong trận động đất tại
tỉnh Tế Xuyên, thậm chí đã ghi lại và đưa lên YouTube các cuộc đối đầu
của ông với các viên chức ngoan cố. Blogger Han Han, vốn là tay đua xe
hơi và cũng là một tiểu thuyết gia, thường xuyên đòi hỏi phương tiện
truyền thông phong phú hơn và tự do văn hóa rộng rãi hơn. Từ khi mở
trang mạng vào năm 2006 đến nay, blog của ông đã nhận trên 410 triệu lần
truy cập. Có ý nghĩa hơn cả có lẽ là, Twitter, vốn bị cấm tại TQ, đã xuất
hiện như một diễn đàn chui sôi nổi nhất để tranh luận chính trị tự do –
bao gồm cuộc đối thoại trực tuyến mang tính đột phá giữa cư dân mạng TQ
và đức Đạt lai La ma vào tháng Năm 2010. Những ưu tiên cốt lõi của lãnh
đạo TQ ngày nay cũng gần giống như những ưu tiên của Đặng Tiểu Bình 30
năm trước đây: phát triển kinh tế và ổn định chính trị. Tuy nhiên, môi
trường hoạt động của họ ở trong nước và nhận thức của họ về con đường
đưa đến thành công là khác hẳn. Ngày nay nếu chỉ tập trung vào mặt trận
quốc nội là thiếu sót; các lãnh đạo TQ muốn uốn nắn tình hình quốc tế để
bành trướng mậu dịch.
Cách mạng
TQ lan rộng toàn cầu
Vào thập niên
90 của thế kỷ trước, nguyên chủ tịch TQ Giang Trạch Dân phát động chính
sách “đi ra” đầu tiên của đất nước, khuyến khích các xí nghiệp quốc doanh
đi ra nước ngoài để tìm kiếm nguyên liệu. Do sáng kiến của họ Giang,
quan hệ mậu dịch của TQ với các quốc gia giàu tài nguyên tại Đông Nam
Á, châu Mỹ La tinh, và châu Phi nở rộ từ năm 2001 đến 2007, gia tăng
600 phần trăm. Hàng ngàn công ty TQ hiện hoạt động khắp nơi trong thế giới
đang phát triển và bằng vốn đầu tư của mình đã làm sống lại một số nền kinh
tế trước đó đã phá sản. Các giới lãnh đạo từ Cộng hòa Dân chủ Congo đến
Venezuela và Campuchia đã tiếp nhận đầu tư và các cơ sở hạ tầng do TQ
đưa đến như một hình thức trợ giúp thực dụng mà nước họ đang thèm khát.
Trong nhiều trường hợp, các xí nghiệp quốc doanh TQ sẵn sàng – và có khả
năng, với sự hậu thuẫn của chính phủ – tiến hành các dự án mà không một
công ty đa quốc nào khác cho là thận trọng về tài chính. Những mỏ đồng
của Zambia đã phải đóng cửa hơn cả một thập niên, mãi cho đến khi người
TQ đến đầu tư mới hoạt động trở lại. Việc bành trướng kinh tế ra nước
ngoài này đã đi song đôi với một nỗ lực ngoại giao ráo riết chưa từng
có. TQ đưa ra một thực đơn đồ sộ gồm các hiệp đồng thương mại và viện
trợ, yểm trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, cống hiến cơ hội giáo dục và đào tạo
kỹ thuật cho các quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên.
Thông thường,
các nhà đầu tư TQ được giới lãnh đạo bản địa hoan nghênh vì họ ngấm ngầm
hứa hẹn chia sẻ một ít thành công của “mô hình TQ” với nước chủ nhà. Việc
chính phủ và các xí nghiệp quốc doanh TQ sẵn sàng đến đầu tư bất cứ nơi
nào, vào bất cứ thời điểm nào, và với bất cứ giá nào đã trở thành chuyện
trứ danh của thời đại. Như ông Sahr Johnny, đại sứ của Sierra Leone tại
Bắc Kinh, đã phát biểu trong một cuộc phỏng vấn liên quan đến các công trình
xây cất tại nước ông: “Nếu một nước trong nhóm G-8 muốn xây lại cái sân vận động
ấy, chẳng hạn, đến giờ này chúng tôi vẫn còn họp họp, bàn bàn. Người TQ
chỉ việc đi đến và làm ngay. Họ không cần họp bàn để đánh giá các hậu quả
tác động lên môi trường, bàn về nhân quyền, về quản trị đất nước tốt hay
xấu”.
Tuy vậy, không
phải ai cũng hồ hởi với lối làm ăn của TQ. Các công ty TQ đã gặp phải sự
chống đối tại một số quốc gia, gồm Papua New Guinea, Peru, và Zambia.
Các thủ tục môi trường và an toàn yếu kém, cùng với các chính sách lao
động dành ưu tiên lộ liễu cho công nhân TQ, đã gây ra nhiều xung đột
gay gắt với dân chúng địa phương tại tất cả các nước này. Tại Việt Nam, một dự án
khai thác bauxite của TQ, sẽ mang vào hơn 2.000 công nhân TQ, đã gây phẫn
nộ cho công nhân Việt Nam, cho các nhà lãnh đạo tôn giáo, và cả những quan
chức trong chính quyền và quân đội. Một luật sư Việt Nam nổi tiếng còn
đi xa hơn nữa, là đã khởi đơn kiện thủ tướng chính phủ, lên án ông ta
đã vi phạm bốn luật khác nhau vì đã vội vã chấp thuận dự án.
Việc TQ đẩy mạnh
tiến trình đô thị hóa cũng sẽ tăng cường nỗ lực hướng ngoại để lùng sục
thêm tài nguyên thiên nhiên. Thêm nhiều đô thị, thêm nhiều đường sá, và
nhiều cơ sở hạ tầng có nghĩa là cần thêm thép, thêm đồng, và thêm
bauxite. Hiện
nay TQ chiếm khoảng một phần tư nhu cầu của thế giới về kẻm, sắt và
thép, chì, đồng, và nhôm. Vào giữa năm 2010, theo Cơ quan Năng lượng Quốc
tế, TQ đã vượt qua Hoa Kỳ để trở thành nước tiêu thụ năng lượng nhiều
nhất thế giới. TQ cũng đang quan tâm về việc tìm kiếm cho đủ nguồn nước.
Tại TQ, lượng nước sử dụng của mỗi người chỉ bằng một phần tư lượng nước
bình quân cho mỗi người trên thế giới. TQ tuyệt đối có lượng nước dồi dào, nhưng
nếu xét đến dân số, mức độ ô nhiễm, và địa điểm của các nguồn nước tại TQ,
thì khắp TQ có nạn khan hiếm nước – khiến lãnh đạo TQ lo thiếu nước nghiêm
trọng trong tương lai vì nhu cầu nước cho công nghiệp và hộ gia đình
tăng lên nhanh chóng. Do đó, họ âm thầm nhưng mạnh dạn tiến hành việc
ngăn đập và chuyển dòng các nguồn nước của cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng,
một hành động sẽ ảnh hưởng đến đời sống của hàng triệu người bên ngoài
biên giới TQ. Những nỗ lực của TQ nhằm thay đổi dòng chảy của các con
sông đang gây lo lắng đáng kể cho Bangladesh, Ấn Độ, Kazakhstan, và nhiều
quốc gia khác, và sẽ đưa đến các tranh chấp vùng trong tương lai: việc
sinh sống của hàng triệu người nằm ngoài biên giới TQ tùy thuộc vào sự
tiếp cận với những nguồn nước này.
Tuy nhiên, đợt
kế tiếp trong chính sách “đi ra” của TQ sẽ vượt quá các đầu tư nhắm vào
tài nguyên thiên nhiên. Trong khi TQ trở thành một nền kinh tế tri thức,
đầy sáng kiến, giới lãnh đạo đang khuyến khích các công ty quốc doanh giàu
tiền mặt và các quỉ đầu tư mua phần hùn hay sang lại các công ty nước
ngoài, đặc biệt các công ty có công nghiệp mà TQ thèm muốn. Thị trường
nào mà sản phẩm TQ có sức cạnh tranh, các công ty TQ sẽ nhanh chân nhảy
vào trước. Bộ Thương mại TQ mạnh mẽ ủng hộ các công ty TQ, chẳng hạn,
các công ty chủ trương dịch vụ “trọn gói” cho các hàng xuất khẩu năng
lượng sạch (clean-energy exports): gồm cung cấp thiết bị, chuyên môn và
các dịch vụ liên hệ. Chính phủ thậm chí sẽ cho vay các khoản nợ cần thiết,
có thể dùng để chi trả các thiết bị được chế tạo tại TQ, công nhân, và
các công nghệ. Bắc Kinh đã hứa xây dựng 1.000 dự án năng lượng sạch cho
các nước châu Phi.
Muốn đảm bảo
một hợp đồng sòng phẳng với các công ty TQ đến đầu tư, các quốc gia sở tại
cần phải thương lượng thẳng thừng với các công ty đó. Chẳng hạn, Bộ Đường
sắt TQ, cơ quan đấu thầu với General Electric để xây dựng hệ thống đường
sắt cao tốc cho California, đã hứa cung cấp vốn, kỹ thuật, thiết bị, và
“nhiều kỹ sư giỏi và chuyên viên giỏi”, việc này có khả năng đặt ra nhiều
câu hỏi về vai trò nào mà GE và công nhân Hoa Kỳ sẽ nắm giữ trong dự
án. California và nhiều bang khác của Hoa Kỳ cần phải đảm bảo rằng việc
đầu tư của TQ sẽ thỏa mãn cùng một lúc nhiều lợi ích của Hoa Kỳ, kể cả
lao động.
Các lãnh đạo
TQ cũng đang muốn có tiếng nói trong các định chế thương mại và tài chính,
trong một nỗ lực nhằm đảm bảo rằng lợi ích kinh tế của họ sẽ được bảo vệ.
Tháng Ba, 2009, trong khi cả thế giới đang chật vật đối phó với cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu, lãnh đạo TQ đã đưa ra một số tuyên bố có tính
khiêu khích về tương lai của hệ thống kinh tế thế giới. Thống đốc ngân hàng trung
ương được nhiều người kính nễ của TQ, ông Zhou Xiaochuan, tuyên vố đã đến
lúc cần phải tránh xa đồng đôla như một loại tiền tệ toàn cầu của thế
giới và bắt đầu phát triển một loại “siêu tiền tệ” (super sovereign) đặt
cơ sở trên một tập hợp của nhiều đơn vị tiền tệ. Bằng luận điệu tương tự,
Chủ tịch Hồ Cẩm Đào kêu gọi rà soát lại hệ thống tài chính toàn cầu tại
cuộc họp thượng đỉnh G-20 tháng Tư, 2009. Ông ta gặp phải phản ứng nhanh chóng từ
công luận: hầu hết các nhà bình luận quốc tế cho rằng chưa đến lúc thế
giới từ bỏ đồng đôla. Các quan chức TQ bèn rút lời lại, bằng cách trấn an những
người chỉ trích rằng những gì họ đưa ra chỉ là những đề xuất có thể thực
hiện vào thập niên tới, chứ không phải là sang năm.
Tuy nhiên, TQ
vẫn lặng lẽ tiếp tục thúc đẩy vấn đề này trong phạm vi Quỉ Tiền tệ Quốc
tế (IMF), và khi số phiếu bầu của TQ gia tăng hơn nữa (tăng từ 2.9% lên
3.6% trong năm 2006 và đang chờ tăng lên 3.8% năm 2010), TQ sẽ có nhiều
cơ may thúc đẩy vấn đề đồng đôla. Dần dà, có thể TQ sẽ tìm cách thay đổi
triệt để hơn nhiều khía cạnh khác của việc quản trị IMF, chẳng hạn như
việc duyệt xét thường niên chế độ tiền tệ của các nước và các điều kiện
liên quan đến việc điều hành quốc gia và tính minh bạch của các nước
vay tiền IMF. Cả hai thủ tục này đều làm TQ phải nhức đầu: IMF từng
gián tiếp cũng như trực tiếp phê bình Bắc Kinh vì đã giữ giá đồng Nguyên
(yuan) ở mức thấp giả tạo. Ngoài ra, thái độ TQ coi thường những chuẩn
mực của IMF về tính trong sáng và khả năng điều hành quốc gia trong các
hợp đồng mậu dịch và viện trợ ở thế giới đang phát triển đã bị cộng đồng
quốc tế phê bình nghiêm khắc hơn nữa.
Mặc dù việc bành
trướng ảnh hưởng kinh tế của TQ trên thế giới là biểu hiện dễ nhận thấy
nhất của chính sách đối ngoại năng động gần đây, nhưng những nỗ lực của
TQ nhằm giới hạn sự cạnh tranh của các nước khác trong một số khu vực chiến
lược chủ yếu, cũng sẽ gây ra ảnh hưởng quan trọng. Nỗ lực của TQ nhằm hậu
thuẫn cho cái gọi là “sáng kiến nội địa” (indigenous innovation) đã nhận
khá nhiều chỉ trích từ các nước khác. Cố tình bác bỏ mô hình canh tân
công nghệ của Nhật Bản và Nam Hàn, một mô hình đặt cơ sở trên chiến lược
đuổi bắt dài hạn bằng cách thuê bản quyền công nghệ nước ngoài, TQ đang
tìm cách tạo ra các chuẩn mực riêng cho sản phẩm và công nghệ của mình.
Và TQ đang lợi dụng các cơ chế quốc tế để biến chuẩn mực nội địa của TQ
thành chuẩn mực toàn cầu. Chẳng hạn, hiện nay TQ quyết tâm vận động cho
các tiêu chuẩn của mình về mã hóa phần mềm và các mạng cục bộ vô tuyến
(wireless LANs) trở thành tiêu chuẩn của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế,
hay IPO. (Trước đây, IPO đã bác bỏ đề nghị của TQ về việc chấp nhận
nghi thức mới này cho cả toàn cầu, một phần vì TQ đã dùng một giải thuật
không được tiết lộ (undisclosed algorithm), sự che giấu này gây lo ngại
về lề lối thương mại thiếu sòng phẳng của TQ. Như Jeremie Waterman, một
giám đốc kỳ cựu tại Phòng Thương Mại Hoa Kỳ, đã nhận xét trong bản điều
trần của ông trước Ủy ban Thương mại Thế giới của Hoa Kỳ vào tháng Sáu
2010, “Bắc Kinh “vừa bắt đầu thi hành một kế hoạch về sáng kiến nội địa
trung hạn và dài hạn, xuyên qua một mạng lưới ngày càng lớn rộng gồm có
các chính sách công nghiệp phân biệt đối xử, trong các lãnh vực như
việc thu mua của chính phủ, an ninh thông tin, thiết định chuẩn mực,
thuế khóa, chống trust, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và việc thực thi
quyền này, và nạn gián điệp công nghiệp. Trong thực tế, thay vì phải cố
gắng giải quyết những vấn đề tồn tại lâu dài này trong các khu vực
thương mại và đầu tư của mình, TQ lại sử dụng những bất cập trong chế độ
điều tiết và thi hành luật lệ của TQ để tạo lợi thế cạnh tranh to lớn
hơn nữa cho các công ty của mình. Tước đoạt sở hữu trí tuệ của các công
ty khác tất nhiên đỡ tốn kém thì giờ và tiền bạc hơn là thuê mướn bằng
sáng chế hay tự mình tạo ra sở hữu trí tuệ. Bao lâu các công ty TQ khó
bị trừng phạt vì tước đoạt sở hữu trí tuệ của các công ty khác, thì
chúng cũng khó mà thay đổi lề thói kinh doanh.
TQ còn dùng nhiều
biện pháp để đảm bảo việc nắm giữ các nguồn lực chiến lược và, trong một
số trường hợp, đã bắt buộc các công ty nước ngoài xây dựng cơ sở sản xuất
tại TQ, nếu không sẽ bị sạt nghiệp. Bằng tiến trình này, Bắc Kinh đang
phá hoại các qui phạm mậu dịch toàn cầu (global trade norms). Tháng Mười
Một 2009, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đã kiện TQ tại Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) vì TQ đã sử dụng những hạn chế xuất khẩu trên 20 nguyên
vật liệu (raw materials), chẳng hạn bauxite và than cốc, những vật liệu rất cần thiết
cho các sản phẩm cơ bản như thép, chất bán dẫn (semiconductors), và máy
bay. Chưa đầy một năm sau, Bắc Kinh tuyên bố thêm một loạt chính sách
thương mại có tính hạn chế mậu dịch, lần này là các kim loại đất hiếm
(rare-earth metals), cắt hạn ngạch xuất khẩu nguyên liệu này đến 72 phần
trăm. Những kim loại này, mà TQ gần như nắm độc quyền, là cần thiết để
chế tạo không những nam châm, điện thoại di động, và cáp quang
(fiber-optic cables) mà còn cả các bình điện của xe chạy bằng điện
(electric-vehicle batteries) và tua-bin gió. Nếu không được rút lại,
hành động này của TQ sẽ ép buộc nhiều công ty năng lượng sạch phải sản
xuất các cơ phận quan trọng ngay tại TQ, vì cả Hoa Kỳ và nhiều nước
khác sẽ mất nhiều năm nữa mới khôi phục lại khả năng khai thác đất hiếm.
Thế giới đã trở
nên quen thuộc với nhiều tác động toàn cầu của cuộc cách mạng kinh tế
TQ. TQ đã trở thành một cường quốc mậu dịch và đầu tư, đã mua một lượng
trái phiếu rất đáng kể của Hoa Kỳ, và đóng một vai quan trọng trong các
thị trường hàng hóa toàn cầu. Hiện nay TQ đang năng nổ tìm cách khuôn nắn
các qui phạm thương mại và đầu tư quốc tế sao cho phù hợp với cuộc cách
mạng kế tiếp của TQ, phần còn lại của thế giới có thể dựa vào kinh nghiệm
quá khứ để thương lượng với, và thỉnh thoảng thậm chí thay đổi hướng đi
của, TQ. Tuy nhiên, cách ứng phó này của thế giới không thể áp dụng cho
các nỗ lực bành trướng quân sự của TQ.
Hải quân TQ
đang dòm ngó đại dương
Tháng Tư
2010, chuẩn đô đốc TQ Zhang Huachen, phó tư lệnh Hạm đội Đông Hải, thẳng
thừng tuyên bố chiến lược hải quân TQ đã thay đổi: “Chúng ta đi từ
phòng vệ duyên hải sang bảo vệ biển khơi… Với sự bành trướng các lợi
ích kinh tế của đất nước, hải quân muốn bảo vệ các đường vận chuyển của
quốc gia và an ninh của các hải đạo chính của chúng ta”. Trên thực tế, tuyên bố
của họ Zhang chỉ là lễ khai mạc cho một chiến lược đã lên kế hoạch từ năm
2007. Chiến lược này dự kiến sức mạnh hải quân TQ sẽ được bành trướng qua
ba giai đoạn: trước tiên, phải tiến tới một lực lượng hải quân có khả
năng canh chừng “chuỗi đảo thứ nhất” gồm các đảo quốc từ Nhật Bản đến Đài
Loan và Phi Luật Tân; tiếp theo, phải tiến tới một lực lượng hải quân
vùng với khả năng vói tới Guam, Indonesia, và Australia; và giai đoạn
cuối là tiến tới một lực lượng toàn cầu trước năm 2050. Tờ Global Times
(Toàn cầu Thời báo) của nhà nước TQ nhấn mạnh những bước đầu tiên trong
khi mô tả sự thay đổi chiến lược của hải quân: “Đương nhiên, sự chuyển hóa
của hải quân TQ sẽ mang nhiều thay đổi cho mô hình chiến lược tại Đông
Á và tây Thái Bình Dương, một mô hình đã tồn tại trong 5 thập niên
qua”.
Biển Nam Trung
Hoa [tức Biển Đông] đã trở thành chiến địa đầu tiên. Vào tháng Ba, thậm
chí trước cả tuyên bố của chuẩn đô đốc Zhang, các viên chức chính phủ
TQ lần đầu tiên tỏ ra quyết đoán rằng biển Nam Trung Hoa – nơi có tài
nguyên từ lâu đã được một số nước khác tuyên bố chủ quyền, gồm Malaysia,
Philippines và Việt Nam – là một “lợi ích cốt lõi”, một từ trước đó chỉ
dành cho Đài Loan và Tây Tạng. Không bao lâu sau đó, vào tháng Tư, hải
quân TQ mở cuộc tập trận kéo dài gần ba tuần lễ ở trong vùng biển này,
như một hành động đi theo các lời tuyên bố.
Cộng đồng quốc
tế liền phản ứng nhanh chóng. Tại Cuộc Đối thọai Shangri-la vào tháng Sáu
2010, ở Nam Hàn, có sự tham dự của các bộ trưởng quốc phòng khắp vùng
châu Á-Thái Bình Dương, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, ông Robert Gates,
xác định rằng quan tâm của Hoa Kỳ trong biển Nam Trung Hoa là đảm bảo
“sự ổn định, tự do lưu thông, và phát triển kinh tế tự do và không bị
ngăn cấm”. Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton, đã tiếp nối
lập trường này tại Diễn đàn vùng ASEAN vào tháng Bảy, tại Hà Nội, bằng cách
đưa ra đề nghị là Hoa Kỳ muốn giúp đỡ, làm trung gian hoà giải cho các
tranh chấp liên quan đến tài nguyên và các hải đảo trong biển Nam Trung
Hoa. Đề nghị của bà liền được nhiều, mặc dù không phải tất cả, quốc gia
tranh chấp chủ quyền hoan nghênh. Và đến tháng Tám, Việt Nam và Hoa Kỳ
đã tổ chức các cuộc diễn tập hải quân hỗn hợp lần đầu tiên tại biển Nam
Trung Hoa.
Sẽ có nhiều thử
thách tiếp theo. Vào tháng Bảy 2010, một trong những học giả hàng đầu TQ
về an ninh quốc phòng, Shen Dingli, đưa ra những lý do phải thiết lập sự
hiện diện quân sự thường trực ở nước ngoài bằng cách thiết lập các căn
cứ quân sự. Mặc dù các viên chức hải quân TQ nghỉ hưu đã từng đưa ra nhiều
quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng hình như bây giờ mới có đủ lực
đẩy chính trị cho một động thái như thế. Chính phủ TQ đã xúc tiến việc
phát triển các cảng nước sâu tại Pakistan, Myanmar (Miến Điện), và Sri
Lanka và công khai thảo thuận tiềm năng của các địa điểm khác tại Bangladesh
and Nigeria. Có thể phải mất cả thập niên hay lâu hơn, hải quân TQ mới
có đủ sức mạnh tương xứng với tham vọng của mình, nhưng những đường nét
chính của một chiến lược an ninh quốc phòng TQ năng động hơn trước thì
đã rõ ràng.
Bảo vệ quan
điểm của TQ
Khi ảnh hưởng
của những chính sách chuyển hóa TQ vang dội khắp thế giới, Bắc Kinh nhận ra nhu
cầu phải có một chiến lược truyền thông táo bạo tương xứng với chủ
nghĩa bành trướng kinh tế và quân sự của mình. Vì mạng lưới
Internet cho phép người nước ngoài nhìn vào TQ theo nhiều cách thế khác
nhau, giới chức TQ bắt đầu nhận thấy nhu cầu phải trình bày quan điểm của
mình với phần còn lại của thế giới. Như một viên chức tuyên giáo cấp
cao bình luận, “Chúng ta phải…bắt đầu nhắm vào một số mặt trận để tranh
thủ công luận quốc tế, và tạo một môi trường công luận quốc tế khách
quan, thuận lợi, và thân thiện với chúng ta”.
Nhận thức này
đưa đến một cuộc tấn công chớp nhoáng của TQ bằng phương tiện truyền thông,
với chi phí lên đến 80 tỷ đôla. Tân Hoa Xã đang tung ra một chương
trình TV phát sóng 24 tiếng đồng hồ mỗi ngày bằng tiếng Anh, đặt trụ sở
tại Times Square ngay trong thành phố New York, để cạnh tranh với CNN
và BBC với mục đích “đưa tin tức TQ và quốc tế cho khán giả toàn cầu, theo
quan điểm của TQ”. Ngành truyền thông nhà nước TQ đã gửi 400 thông tín viên đến
117 văn phòng báo chí khắp thế giới, và đang lên kế hoạch cho 180 văn
phòng trước năm 2020. Các hãng truyền thông TQ – như Tân Hoa, Trung
Hoa Nhật báo, Toàn cầu Thời báo, và Nhân dân Nhật báo
-- hiện nay thường xuyên yêu cầu các chuyên gia nước ngoài bình luận về
các vấn đề toàn cầu.
Nhưng đồng thời,
các giới chức TQ vẫn giữ quyết tâm kiểm soát luồng thông tin từ ngoài
vào và cả từ trong nước. Chế độ kiểm duyệt, hệ thống công an mạng, những
luật lệ mới ban hành liên quan việc đăng ký các nghi thức giao tiếp mạng
(Internet Protocols), và việc bắt bớ các nhà bất đồng chính kiến sử dụng
Internet, tất cả nỗ lực này đều nhằm ngăn chặn người dân TQ khỏi ra
ngoài các hạn giới chính trị được chấp nhận. Ngoài ra, các hãng truyền thông
nước ngoài gần như không thành công bao nhiêu trong việc chiếm được thị
phần (market share) đáng kể tại TQ, khiến một số hãng – như Google và
nhà đại tư bản truyền thông Rupert Murdoch – đã cắt giảm hoạt động hay
đành phải rút khỏi thị trường trước những chính sách giới hạn quá khắt
khe.
Nhiên hậu, mức
độ thành công của ngành truyền thông TQ trong nỗ lực tranh thủ nhân tâm
của phần còn lại của thế giới rất có thể sẽ tùy thuộc vào khả năng thay
đổi lề thói kinh doanh của TQ. Hiện nay các quốc gia độc tài khác cũng đang
bắt chước mô hình TQ, bằng cách giới hạn việc tiếp cận Internet của dân
chúng và kiểm soát báo, đài trong nước. Tuy nhiên, muốn dành được sự kính
nể và tin cậy của các quốc gia khác, TQ phải đi theo một chiến lược khác
hẳn hiện nay. Một đường lối đưa tin công khai và thẳng thắn về TQ sẽ là
rất cần thiết. Rốt cuộc, có lẽ việc xông xáo của truyền thông TQ ở nước
ngoài chuyển đổi được thế giới thì ít mà chuyển đổi mặt trận trong nước
thì nhiều. Khi các công ty truyền thông TQ phải tự lột xác để cạnh tranh
trên trường quốc tế với cách đưa tin cởi mở và có tính điều tra hơn, thị
trường khán, thính giả trong nước sẽ gia tăng sức ép, buộc các công ty
này phải chấp nhận các chiến lược tương tự.
Hoa Kỳ là
ưu tiên hàng đầu
Trong ba thập
niên qua TQ rất nhất quán trong việc xác định phát triển kinh tế và ổn định
chính trị là lợi ích cốt lõi của mình. Chỉ có nhận thức của lãnh đạo về
phương tiện cần thiết để đạt được hai mục tiêu này là thay đổi. Nỗ lực của
TQ nhằm tái tạo các chuẩn mực toàn cầu cũng được thôi thúc bằng một chủ
nghĩa dân tộc đang sống dậy, nhắc nhở đến thời đại khi TQ đã là một cường
quốc thương mại trên thế giới. Đối với một số giới chức TQ, thế kỷ vừa
qua – trong đó TQ gần như vắng bóng về sức mạnh kinh tế và quân sự --
chỉ là một chệch hướng của lịch sử. Theo cách nhìn của họ, hiện nay mọi
việc đang trở lại bình thường.
Chính sách đối
ngoại năng động của TQ khiến Hoa Kỳ cần phải làm một cuộc tái thẩm định
chiến lược. Những khẩu hiệu như “ngăn chận”, “cầu thân”, “vừa ngăn chận
vừa cầu thân”, và ý niệm về một “G-2” sẽ không còn là những quan niệm thực
dụng trong những năm sắp tới. Thay vào đó, Nhà Trắng cần phải cân nhắc
chính sách của mình trên ba bình diện.
Trước hết, thay
vì chỉ dựa vào quan hệ song phương (một nỗ lực đã được Hoa Kỳ thử nghiệm
nhưng về sau phải loại bỏ vì phía TQ không mấy quan tâm), chính quyền
Obama cần phải tiếp tục cộng tác với nhiều nước khác để có thể ảnh hưởng
lên thái độ của Bắc Kinh. Hoa Kỳ, Liên hiệp châu Âu, và Nhật Bản thường
xuyên phối hợp chính sách thương mại đối với TQ; Hoa Kỳ hợp tác với Nga
đã thuyết phục được TQ trong một loạt biện pháp trừng phạt của LHQ dành
cho Bắc Hàn; và Hoa Kỳ cùng với một số quốc gia Đông Nam Á đã tìm thấy
chính nghĩa chung trong việc gây sức ép nhằm đưa TQ đến bàn thương thuyết
về Biển Nam Trung Hoa. Vì TQ sẽ bành trướng hoạt động hải quân trong những
thập niên tới, những hợp tác đa phương như thế – kể cả việc cùng nhau tạo
sức ép – sẽ là rất cần thiết để thuyết phục TQ thảo luận tính minh bạch
quân sự và các luật lệ quốc tế về an ninh hàng hải.
Nhà Trắng vẫn
phải tiếp tục minh định rằng chính phủ Hoa Kỳ tin tưởng phải có một số giá
trị cốt lõi nhất định làm nền tảng cho hệ thống quốc tế. Những giá trị
này trên hết phải phản ánh sự cam kết của Hoa Kỳ đối với tự do – tự do
trên biển, trên không, trong không gian, và trên Internet; chế độ pháp
trị; và các quyền tự do chính trị đi liền với các quyền cơ bản của con
người. Mức
độ xung khắc giữa những giá trị này và những giá trị được TQ cổ vũ có
thể giải thích tại sao con đường đi đến tin cẩn và hợp tác giữa hai nước
vẫn còn nhiều thách đố. Ngay tại TQ cũng có những nhà tư tưởng chính trị, những nhà
cải cách, và thậm chí giới chức chính quyền chia sẽ những lý tưởng mà Hoa
Kỳ cổ vũ. Nhưng, cho đến khi các quan điểm của những người này trở nên
thắng thế, Hoa Kỳ vẫn phải sẵn sàng nêu cao những lý tưởng này xuyên
qua các sáng kiến ngoại giao và chính sách của mình.
Chính sách của
Hoa Kỳ đối với TQ không phải chỉ gồm có chặn đứng, chống chọi với những
nỗ lực của TQ và xiển dương các lý tưởng Hoa Kỳ. Washington cũng không thể
dựa vào các cuộc đối thoại thường niên nhằm rà soát một loạt vấn đề để,
ruốt cuộc, cũng chỉ mô tả các lãnh vực mà Hoa Kỳ và TQ bất đồng quan điểm
mà chẳng đóng góp được gì cho việc tranh thủ lợi ích của Hoa Kỳ.
Bình diện thứ
ba trong chính sách của Hoa Kỳ là phải quan tâm về các lợi ích và mục tiêu
bên trong nước Mỹ. Chính quyền Obama nên khởi sự bằng cách lấy một trang
trong sách chơi của TQ. Cũng như TQ, trước hết Hoa Kỳ phải xây dựng chính
sách đối ngoại của mình từ việc xác định rõ ràng mục tiêu và sách lược
trong tương lai: Trong 50 năm nữa, Hoa Kỳ sẽ phải như thế nào, và làm
sao để đi đến đó? Từ lợi thế có được một viễn kiến như vậy, chính sách
đối với TQ sẽ trở thành một phương tiện để đạt những mục tiêu của Hoa Kỳ,
chứ không phải tự nó là một cứu cánh (an end in itself).
Nếu Hoa Kỳ muốn
là nước đi đầu trong công nghệ năng lượng sạch trước năm 2050, chẳng hạn,
ngay từ bây giờ Hoa Kỳ phải xây dựng hạ tầng cơ sở về tri thức, về tài
chính, và về chính trị để đạt mục tiêu ấy. Và khi các công ty đầu tư
năng lượng sạch của TQ đến gõ cửa, như họ đang làm, Hoa Kỳ sẽ phải có đủ
tư thế để quyết định loại đầu tư nào đáng được hoan nghênh. Khi thực hiện
đúng cách, các hợp đồng như thế mới có tiềm năng đưa đến sự hùn hạp
công bình và hợp tác thành công. Chẳng hạn, vào tháng Tám 2010, Nghiệp
đoàn Công nhân ngành thép Thống nhất (United Steelworkers union) đã ký
hợp đồng với các công ty A-Power Energy Generation Systems và Shenyang
Power Group của TQ để xây dựng một cánh đồng tua-bin gió (wind-farm) trị
giá 1 tỉ rưỡi đôla tại bang Texas, tạo ra 1.000 việc làm cho công nhân
Hoa Kỳ – nhảy lên từ 330 việc làm khi dự án được đề xuất lần đầu – và
dùng khoảng 50 ngàn tấn thép do Hoa Kỳ sản xuất.
Trong một cách
tương tự, những nỗ lực của TQ nhằm tách rời hệ thống tài chính quốc tế
ra khỏi đồng đôla, trữ kim của thế giới hiện nay, cho dù có khả năng gây
thiệt hại nếu thực hiện đột ngột, nhưng về lâu về dài biết đâu lại có lợi
cho Washington. Nếu Hoa Kỳ không còn có thể vay mượn dễ dàng hơn các nước
khác, nghĩa là không còn thâm thủng mậu dịch to lớn, với lợi thế chấn động
kinh tế đến chậm hơn, chẳng hạn, Hoa Kỳ sẽ áp đặt được kỷ luật ngân
sách có ích lợi lên kinh tế Hoa Kỳ.
Quan tâm theo
dõi những chuyển biến trong nội bộ TQ là việc rất có lợi cho các nhà làm
chính sách Hoa Kỳ đang tìm cách đoán trước TQ sẽ làm gì trong bước tiếp
theo. Việc
khan hiếm nước tại TQ, chẳng hạn, rất có thể sẽ ảnh hưởng và thậm chí
giới hạn các cơ hội phát triển nông nghiệp và công nghiệp tại TQ trong
nhiều thập niên tới. Lắng nghe các dấu hiệu báo trước những thay đổi
chính sách, như lời bình luận công khai và uyên bác về tương lai các
căn cứ quân sự TQ ở nước ngoài, cũng là điều quan trọng. Sau cùng là,
lãnh đạo TQ sẽ được thay thế vào năm 2012. Năm trong bảy vị lãnh đạo
chóp bu trong Ủy ban Thường vụ Chính trị bộ, gồm chủ tịch Hồ Cẩm Đào và
thủ tướng Ôn Gia Bảo, sẽ nghỉ hưu. Những kỹ sư tương đối cách biệt với
thế giới bên ngoài này sẽ được thay thế bằng một giới lãnh đạo gồm phần
lớn các nhà khoa học xã hội đầy tự tin, đi đây đi đó nhiều, và có đảm
lược chính trị. Có thể những thay đổi chính trị táo bạo sẽ không nằm trong
chương trình nghị sự của họ, nhưng một số trong nhóm này đã từng đưa ra
những thử nghiệm hay cải tổ chính trị khi họ còn làm lãnh đạo cấp tỉnh.
Đó là một nhóm lãnh đạo, khi được giao quyền bính, chắc chắn sẽ mang lại
nhiều thay đổi hơn trước và thậm chí có thể làm thế giới ngạc nhiên. Mặc
dù lãnh đạo TQ đã đưa ra viễn kiến của họ và đã khởi động tiến trình thay
đổi, nhưng những sức ép quốc nội và quốc tế có thể mang lại một kết quả
khác xa với điều họ tiên liệu. Tất cả mọi cuộc cách mạng đều chứa đựng những
yếu tố bấp bênh nội tại, và cuộc cách mạng của TQ không phải là một ngoại
lệ. Hoa Kỳ cần phải sẵn sàng, và việc này đòi hỏi nhiều hơn là chỉ biết
phản ứng lại chính sách đối ngoại năng động của TQ; nó đòi hỏi Hoa Kỳ
phải có một chính sách biết nhìn sâu vào cuộc cách mạng nội bộ của TQ,
để dự kiến những thử thách và cơ hội trong tương lai cho một cộng đồng quốc
tế sẽ xuất hiện do hậu quả của cuộc cách mạng này.
Trong khi TQ
cố tình tái tạo các định chế và qui phạm toàn cầu, Hoa Kỳ cũng cần phải
tiếp tục khẳng định các lý tưởng và các ưu tiên chiến lược của mình, đồng
thời hợp tác chặt chẽ với các quốc gia cùng chí hướng. Nhưng, nhiên hậu,
Hoa Kỳ sẽ thành công chỉ khi nào Hoa Kỳ có thể phát biểu rõ ràng những ưu
tiên kinh tế và chính trị của mình và sau đó phải nắm chắc TQ có thể giúp
mình thực hiện những mục tiêu ấy như thế nào. Chính sách TQ của Hoa Kỳ
phải là một phương tiện đưa đến một cứu cánh, chứ không phải là một cứu
cánh tự thân.
Túy Vân phỏng dịch
Người dịch gửi
trực tiếp cho BVN
Trích: Bauxite VN 21.11
|