|
DC&PT - Thời Sự 2010
Hoàng
Giang
|

“rồi lại còn lên tiếng bênh
những việc làm lộng hành của họ trên Biển Đông tưởng làm thế là giữ
được 16 chữ vàng, tức giữ được “cái ghế” cho mình, thì có phải là giúp
họ hợp thức hóa hành vi xâm lược?”
|
Hoàng
Giang là bút danh của một đảng viên cao cấp ĐCSVN hiện nay đã nghỉ hưu. BVN
rất kính trọng tác giả nhưng vốn không chủ trương trình bày ý kiến phản biện
với Đảng mà chỉ phản biện với các cơ quan công quyền, nên xin đăng bài
này với trách nhiệm thuộc cá nhân tác giả, để mời bạn đọc ngẫm nghĩ về
một vấn đề thực tiễn của xã hội chúng ta nhìn trên bình diện lý thuyết và
từ góc độ Đảng mà nói.
Thật
ra, lâu nay, nhiều nhà trí thức như nhà văn Nguyên Ngọc, cũng đã băn khoăn
trăn trở rất nhiều về việc: lẽ ra ngay sau 1975 chúng ta cần có một đề án
tâm huyết cho công cuộc phục hưng dân tộc, nhằm kiên trì xây dựng
lại đời sống tinh thần mọi mặt của người Việt, nhất là mặt nền tảng đạo
đức, lương tri, lối sống, phong tục... trên toàn bộ xã hội Việt Nam vốn
đã bị nhàu nát sau 30 năm chiến tranh. Nhưng các bậc lãnh đạo thuở bấy
giờ vì quá say men chiến thắng đã để lỡ mất cơ hội ngàn vàng ấy. Bây giờ
thì, cùng với một thiết chế hình như chưa thích hợp áp đặt khiên cưỡng
sau bao nhiêu năm, cộng với một nền kinh tế thị trường đôi khi không có
sự hướng dẫn của lý trí xã hội và của pháp quy chặt chẽ gây nên không ít
đảo lộn trong đời sống mà sự chi phối ngược của các nhóm lợi ích là một
trong những tác nhân tệ hại, những hiện tượng hỗn loạn bộc phát ngày càng
làm cho cái phần nền tảng tinh thần xã hội trở nên suy thoái, nham nhở
một cách bi đát. Giải pháp nào đây? Các vị ngồi trên đỉnh cao chót vót có
lúc nào thoáng nghĩ đến điều đó hay không hay ngày đêm chỉ dành hết tâm
can cho giấc mơ... siêu dự án và đại dự án?
Bauxite
Việt Nam
Hình như dân tộc nào cũng có
câu “Im lặng là vàng!” Dù câu này có thể được diễn đạt có chút ít khác nhau,
nhưng nội dung đều cùng chứa đựng cái hàm ý ấy. Qua câu phương ngôn
này cho thấy trong văn hóa ứng xử, dân tộc nào cũng đề cao sự khiêm tốn
và sự kiệm lời, sự biết lắng nghe và sự biết suy xét, sự biết nhẫn nhịn
và sự biết kiềm chế trước khi nói; nếu không cần, hoặc chưa cần thì im lặng
vẫn là chọn lựa tối ưu.
Thế nhưng, trước bất công của
xã hội, trước áp bức của cường quyền, trước một vấn đề có liên quan đến tồn
vong của đất nước thì sự im lặng của con người sẽ có ý nghĩa gì đây?
Do chưa nắm bắt được vấn
đề? Do
thiếu thông tin? Do bị bưng bít? Do hèn nhát? Do dốt nát? Do ngu muội? Do
tắc trách? Do thiếu tự tin? Do thiếu quyết đoán? Do đồng tình?
Có lẽ các câu hỏi trên có thể chỉ là những câu trả lời chính
xác cho từng đối tượng và từng trường hợp cụ thể, song cũng có
thể là câu trả lời tổng hợp đối với tất cả những nội dung được hỏi, để
dành cho những ai có trách nhiệm với lịch sử mà lại im lặng trước thực trạng
xã hội được mô tả.
Cái Gian và cái Ác luôn luôn muốn bít mắt, bưng tai và bịt miệng mọi
người bằng sự lừa bịp, bằng sự dối trá lẫn bằng quyền uy và bạo lực để
chúng được tự do hoành hành. Sự im lặng của mọi người trong xã hội là đúng
với mong mỏi của kẻ gian, kẻ ác.
Sự im lặng trước bất công của xã hội, trước áp bức của cường quyền,
nhất là trước các sự kiện có liên quan đến tồn vong của đất nước cũng
đồng nghĩa là món nợ ngàn đời của các thế hệ đi trước đối với các thế hệ
con cháu mai sau. Xã hội nào mà có hiện tượng đó xảy ra là một xã hội
thực sự vô phúc và bất hạnh.
Hầu như tất cả cán bộ và quần chúng cách mạng Việt Nam
đều thấm nhuần cái tên gọi của cuộc cách mạng dân tộc – dân
chủ nhân dân, cái tên mà Đảng ta luôn nêu cao trong suốt quá trình
tiến hành cách mạng từ năm 1930 đến năm 1975, cũng như cái tên
Việt nam - Dân chủ - Cộng hòa, cái tên vinh quang đã từng được
thế giới biết đến trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ, cái tên một thời luôn là chỗ dựa tinh thần, là
niềm tin và mục tiêu chiến đấu của biết bao thế hệ chiến sĩ
và quần chúng cách mạng trong suốt 30 năm dài qua hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bởi vì cái tên đó đồng nghĩa
với việc nước Việt Nam đã thực sự có tên trên bản đồ thế
giới, đồng nghĩa với một nước Việt Nam đã được độc lập và
đang phấn đấu cho một nền độc lập, tự do hoàn toàn.
Thế nhưng, ngay khi vừa hoàn thành giai đoạn cách mạng giải phóng
dân tộc, người ta đã võ đoán xóa bỏ ngay giai đoạn cách mạng dân chủ
nhân dân, giai đoạn lẽ ra phải được tiếp nối sau giai đoạn cách mạng
giải phóng dân tộc như Đảng ta đã từng long trọng hứa hẹn với quần chúng,
với dân tộc khi động viên họ tham gia và ủng hộ tiến trình cách mạng. Người
ta đã xóa bỏ tên nước, xóa bỏ hiến pháp, xóa bỏ nền pháp quyền đầu
tiên của cách mạng, xóa bỏ nền dân chủ đã từng hứa hẹn để thay
vào đó là “cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa” và “nền chuyên
chính vô sản”; thậm chí đến cái tên của cái chính đảng đã
từng lãnh đạo cuộc cách mạng ấy cũng bị vội vàng xóa bỏ.
Thuở ấy người ta đang ngây
ngất, phiêu diêu trong sự thăng hoa và trong men say chiến thắng
của một dân tộc sau hàng thế kỷ dài sống trong tủi nhục của kiếp
nô lệ và phải trải qua vô vàn đau thương mất mát bởi tình trạng “nồi
da xáo thịt”, đất nước bị chia cắt, dân tộc bị chia rẽ, thân quyến
bị chia lìa qua suốt hơn 30 năm ròng rã chiến tranh..., nay bỗng
được độc lập, được tự do và thống nhất, được sum họp gia đình nên
chỉ nghĩ những việc làm đó của Đảng lúc ấy là sự tiếp tục của
tư tưởng “cách mạng không ngừng” mà Lê- nin đã đề xướng, và đó
chỉ là quan điểm cách mạng “triệt để” của những người cách
mạng chân chính, không ai kịp nghĩ đó là hành vi bóp chết một nền dân chủ trước khi
nó kịp định hình. Tệ hại nhất là không ai kịp nhận ra đó là một
sự phi tang những thành quả cách mạng có liên quan đến Hồ Chí
Minh; không ai kịp nhận ra đó là sự khẳng định ngạo nghễ của
con người đương kim lãnh đạo cái chính đảng, cái chính thể và
cuộc chiến thắng ấy, một sự khẳng định nhằm thách thức vị trí
và vai trò lịch sử của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong tiến trình
cách mạng vừa qua. Sự tha hóa và chuyên quyền, cùng với căn bệnh
vĩ cuồng sau chiến thắng kéo dài cho đến tận lúc qua đời của cá
nhân Tổng bí thư Đảng lúc ấy đã tự vạch trần và làm lộ bước đầu mưu đồ
nói trên của ông và một vài cộng sự thân cận; minh chứng cụ thể là sau
cái chết của nhân vật ấy người ta cũng đã vội vàng xóa bỏ
nguyên tắc tại vị suốt đời trong các cương vị lãnh đạo Đảng và
nhà nước để ngăn ngừa tái lập hiện tượng cá nhân chuyên quyền.
Chỉ tiếc rằng số đông có thẩm quyền lúc bấy giờ đã không kịp nhận rõ
toàn bộ mưu đồ thâm độc này của ông ta để đi đến một quyết định sáng suốt
là xóa bỏ triệt để toàn bộ các thiết chế đã phục vụ cho tham vọng
thâu tóm quyền lực và chiếm đoạt công danh của con người đó; nếu
lịch sử đã đi theo chiều hướng nói trên thì hạnh phúc cho dân
tộc và cho xã hội này biết mấy. Bởi vì nếu đã kịp thời xóa bỏ
toàn bộ những thiết chế ấy thì cái chính đảng từng có công đưa
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thành công đã không bị
cướp mất chính danh, cái đất nước từng được cuộc cách mạng ấy
thai nghén và khai sinh đã không bị xóa tên, bản Hiến pháp từng
được các dân tộc và các quốc gia đang bị áp bức trên thế giới
coi là tiến bộ và cách mạng nhất vào thời kỳ ấy đã không bị
vứt bỏ, nền pháp quyền và nền dân chủ mà bản Hiến pháp ấy từng
đặt nền móng đã không bị thủ tiêu. Song
đau xót hơn cả là nhân dân của đất nước này sau khi đã cùng Đảng
tiên phong của mình đạt được chiến thắng thì đã bị chính lãnh
tụ của đảng đó phản bội; sự thống trị của ngoại bang khi
trước thì nay lại được thay thế bằng sự thống trị có phần gay
gắt và nghiệt ngã hơn của người bản xứ, người đã từng là đồng
đội, đồng chí và lãnh tụ của mình. Ước vọng ngàn đời của một
dân tộc kể từ khi hình thành và lập quốc cho đến nay về một nền
dân chủ đang manh nha tưởng sắp đạt được bỗng tuột khỏi tầm tay,
khiến
cho dân tộc ấy trong suốt chiều dài của lịch sử chưa từng được biết
biết thế nào là hình hài và mùi vị thực sự của một nền dân
chủ, nay đã bị mất đi cơ hội có thể được biết nó. Vinh quang chói
lọi của một dân tộc kiên cường, biết hy sinh và biết chiến
thắng, một dân tộc đã được hầu hết các dân tộc trên thế giới
biết đến và ngưỡng mộ bỗng bị lu mờ. Tệ hại hơn là đất nước
và dân tộc ấy sau đó đã bị cộng đồng quốc tế cô lập gần như ruồng
bỏ trong nhiều thập kỷ. Hậu quả nhãn tiền là đất nước đó từ vị trí
của nhóm nước đứng đầu so với mặt bằng phát triển chung trong khu vực đã
bị bị tụt hậu thảm hại trước sự bứt phá nhảy vọt của nhiều nước láng
giềng trong khu vực.
Các nước láng giềng đó không có Đảng anh minh lãnh đạo, nhưng người
ta đã chọn được phương pháp đúng phù hợp với hoàn cảnh, bối cảnh cụ thể
của đất nước họ trong mối tương quan, tương đồng với hoàn cảnh, bối cảnh
của thế giới lúc bấy giờ; vì thế họ đã tạo nên thời cơ và chớp lấy thời
cơ để có những bước bức phá vượt xa chúng ta trong quá trình phát triển.
Còn chúng ta có Đảng anh minh lãnh đạo – như chúng ta đã từng
tự nói to lên – nhưng lại tự mình để tuột biết bao cơ hội thuận lợi. Những
cơ hội ngàn vàng ấy sẽ không bao giờ tìm lại được nữa vì bối cảnh, vì nội
lực, vì tư thế và xuất phát điểm, vì mối tương quan hiện tại của chúng ta
so với xung quanh đã hoàn toàn khác xưa.
Cơ hội đã không chờ chúng ta!
Thời gian đã không chờ chúng ta!
Sau ngày thống nhất đất nước 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc
ta đã bao lần lỗi nhịp trong bước phát triển của mình!
Một phương pháp sai không bao giờ đem lại kết quả đúng. Không thể có
cách nào để biện minh được rằng các thực trạng thảm hại mà đất nước ta đã
phải hứng chịu kể trên là những kết quả đúng. Đó là hệ quả trực tiếp của hàng
chuỗi sai lầm trong cách chọn mục tiêu chiến lược và mục tiêu trước mắt,
cũng như trong cách xác định phương pháp cách mạng cho từng mục tiêu trong
từng thời kỳ mà Đảng đã tiến hành sau năm 1975.
Đảng ta có thói quen,
mọi công lao và thành quả cách mạng đều được quy về công tích của Đảng và
sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Vậy thực trạng bi đát kể trên của đất
nước thì phải quy về tội lỗi và năng lực lãnh đạo của ai?
Thế mà đứng trước các quyết định có tầm vóc lịch sử, liên quan đến
vận mạng và tương lai của cả dân tộc thuở ấy thì các thế hệ công dân trưởng
thành như chúng ta, những người có quyền ăn nói khi ấy đã im lặng.
Đó là sự im lặng lịch sử và là món nợ ngàn đời của chúng ta
với hậu thế!
Chúng ta vô tình vừa là nạn nhân, đồng thời cũng là kẻ đồng lõa với
con người có hành vi đồ tể và kẻ cướp đã giết chết cuộc cách mạng dân chủ
và cướp không mọi thành quả đạt được của quần chúng cách mạng (Thế mà mỉa mai thay,
cứ đến gần ngày sinh và ngày mất của nhân vật ấy thì người ta lại có bài
tung hê công lao của con người gian hùng, lật lọng này đối với cách mạng;
trớ trêu thay cho đến nay mà nhiều người trong chúng ta vẫn còn ngộ nhận
hành động bức tử nền dân chủ cùng với nền móng nhà nước pháp quyền đang
có cơ hội manh nha và cướp công cách mạng của con người ấy là những công
lao đối với cách mạng!?).
Quần chúng quảng đại và giới trí thức của các vùng mới được giải phóng
hồi ấy còn đang mặc cảm với thân phận của mình và còn đang xa lạ với
chính quyền cách mạng thì làm sao đòi hỏi người ta phải có tiếng nói cần
thiết trong tình trạng đó?
Những người bên kia hàng ngũ còn đang chưa xác định được vị trí và
chưa biết số phận của mình sẽ ra sao dưới chế độ mới này thì làm sao đòi hỏi
họ phải có tiếng nói thỏa đáng trong trường hợp này?
Chỉ có chúng ta – bao gồm cả các cán bộ và chiến sĩ cách mạng lẫn
quần chúng cách mạng thuở ấy – những người đã tiến hành cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc và đang ở độ tuổi trưởng thành đầy đủ lúc ấy là phải
chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự im lặng lịch sử nói trên, mặc dù hồi ấy
đã không ai hỏi chúng ta về quyết định này của họ cả.
Chúng ta đã tiến hành cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc, nhưng chúng ta đã không tự giải phóng được mình khỏi
sự ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và khỏi vòng ảnh hưởng của tư tưởng
thần quyền. Chúng ta đã tôn thờ lãnh tụ của
mình với lòng trung thành và sự phục tùng tuyệt đối như người xưa đã tôn thờ
và phục tùng đức vua của họ. Chúng ta đã tôn thờ cái chủ nghĩa được coi là lý
tưởng ấy như tôn thờ một tôn giáo mà không hề xét đến đặc điểm dân tộc, trình
độ nhận thức và bối cảnh đặc thù của xã hội chúng ta. Chúng ta đã coi cái
tổ chức mà chúng ta trực thuộc ấy không khác gì một giáo hội, chúng ta đã
tuân thủ nó một cách tự nguyện và nghiêm túc như con chiên ngoan đạo ứng
xử với tổ chức giáo hội của họ. Vì thế chúng ta đã phó thác mọi
quyết định cho người lãnh đạo và cho tổ chức lãnh đạo chúng ta. Vì thế
chúng ta đã trở thành những kẻ “ngu trung” mù quáng. Vì thế lý trí của
chúng ta hoàn toàn bị tê liệt, luôn chấp hành mà không hề có phản kháng với
mọi quyết định của cấp trên. Vì thế chúng ta đã im lặng và thụ động. Điều
đó có nghĩa là chúng ta đã mặc nhiên chấp nhận và mặc nhiên là tòng phạm.
Chúng ta đã tham gia cuộc đấu tranh để giành độc lập tự do này tự
nhiên như một lẽ sinh tồn; tuyệt đại bộ phận trong
chúng ta trước đó không hề biết chủ nghĩa cộng sản là gì, ngoài nhận thức
mang tính bản năng là chủ nghĩa yêu nước. Chúng ta tham gia cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc này với một động cơ hồn nhiên và trong sáng mà
trong tâm tư không có gì lớn hơn khát vọng được làm người dân của một
nước độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc như mục tiêu đã hằng được cuộc
cách mạng này nêu cao, hơn thế nữa mục tiêu này lại còn được trân trọng
nêu trong quốc hiệu đầu tiên của đất nước: “Việt Nam – Dân chủ - Cộng
hòa; Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”. Vì thế chúng ta đã trở thành ngờ
nghệch, ấu trĩ và cả tin trước các tham vọng và thủ đoạn chính trị của
các chính khách, khiến lúc ấy chúng ta đã bị lừa nên đã im lặng, dù là
một cách thụ động.
Vì bản năng sinh tồn và khát vọng tự do mà chúng ta đã dũng cảm vô
song trước mọi khó khăn trở ngại và trước quân thù, nhưng vì cố chấp và không
quyền biến với nguyên tắc phục tùng tổ chức, nguyên tắc “dân chủ tập
trung” mà chúng ta đã im lặng trước mọi quyết định sai trái của cấp trên,
thậm chí còn chấp hành chúng một cách máy móc và vô điều kiện.
Chúng ta là những người biết trọng nhân cách và danh dự nên rất trân
trọng sự nghiệp chính trị và sinh mạng chính trị của mình. Thế nhưng chế
độ kỷ luật tự giác - một thứ kỷ luật sắt không thể không chấp hành, một
kiểu kiêu hãnh và tự hào đối với những ai tự cho mình là giác ngộ, là đảng
viên trung thành và trung kiên của Đảng - đã khiến chúng ta trở nên hèn nhát
và do dự mỗi khi suy nghĩ, hành động hay phát ngôn trái với những gì được
coi là ý Đảng. Mặc dù đã có không ít những người trung thực từng dám nói lên tiếng
nói của sự thật, đã dũng cảm hành động theo lương tri của mình, song suy
cho cùng đó cũng chỉ là những tiếng nói và việc làm rời rạc, lẻ loi không
có sự phối hợp đồng bộ và nhịp nhàng với số đông nên đã thất bại nặng nề
và thảm hại. Tuy nhiên hãy thành thực mà tự suy xét mình, đằng sau cái
được gọi là ý thức tổ chức kỷ luật ấy, cụ thể là trong trường hợp gọi là
để “bảo toàn sinh mạng chính trị” ấy có phải là nỗi lo sợ bị mất một
phần, hay mất hết quyền lợi chính trị, quyền lợi vật chất và vị trí xã
hội mà chúng ta đang được hưởng hay không? Người có cương vị bình thường
thì không nói gì, còn người có đặc quyền, đặc lợi thì có thể chối cãi điều này được
không? Có thể vì thế mà biết bao người khi tại vị thì không dám mở mồm,
đến khi hết vai trò rồi thì mới dám lớn tiếng? Có thể vì lúc ấy họ chưa
thấy được sự thật của vấn đề? Có thể cả hai lý do đều đúng cả hay chỉ
đúng một phần, nhưng tựu trung thì vẫn là biểu hiện cụ thể về sự hèn
nhát, sự ích kỷ và sự mù quáng một thời của chúng ta mà thôi.
Chúng ta được trang bị những nguyên
tắc cơ bản có thể nói đến là hoàn hảo, khiến Đảng chúng ta trở thành một
“đảng kiểu mới” có “sức mạnh hơn người” khi sử dụng những nguyên tắc ấy vào
mục đích cao cả, mục tiêu đúng đắn. Đó là nguyên tắc lấy “thiểu số phục
tùng đa số” làm cơ sở khi quyết định mọi quyết sách có lợi cho dân cho
nước; đó là nguyên tắc lấy “phê bình và tự phê bình” làm quy luật phát
triển; đó là nguyên tắc lấy “đường lối quần chúng” làm đường lối cơ bản;
đó là nguyên tắc lấy phương pháp “duy vật biện chứng” làm phương pháp tư
tưởng v.v. Nếu chúng ta đã biết tuân thủ và vận dụng một cách triệt để những nguyên
tắc ấy trong mọi sinh hoạt khác của Đảng thì đâu có cái cảnh một cá nhân
có thể lũng đoạn và thao túng vận mạng sống còn của Đảng lẫn của cả dân
tộc như vừa qua (và như hiện nay); đâu có cái cảnh dân chủ trong
Đảng lẫn trong xã hội đã bị bóp nghẹt như thuở ấy (và như hiện nay);
đâu có cái cảnh mọi phản biện trong Đảng lẫn trong xã hội bị cấm đoán như
thuở ấy (và như hiện nay); đâu có cái cảnh Đảng lại tự đặt mình
lên trên cả dân tộc, lên trên cả nhà nước như thuở ấy (và như hiện
nay); đâu có cái cảnh sai lầm lạc hướng trong các quyết sách cơ bản
của Đảng một cách duy tâm, duy ý chí và dai dẳng như thuở ấy (và như
hiện nay). Chỉ cần ngần ấy bửu bối trong tay thôi cộng với sự dũng cảm vốn có
của những người chiến sĩ cách mạng đã từng vào sinh ra tử, từng luôn tỉnh
táo trước lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, từng dám vượt qua chính mình
thì chúng ta đã có thể ngăn chặn được thảm trạng vừa qua cho đất nước.
Chúng ta đã không có đủ sự minh mẫn, sự dũng cảm, cũng như đã không tận
dụng được những vũ khí ấy trong thời khắc đoàn tàu lịch sử đã bị cưỡng
bức “bẻ ghi” theo chiều lệch hướng, khiến chúng ta phải mang món nợ
lịch sử này đối với hậu thế.
Theo nguyên tắc, mắc nợ thì phải trả.
Không thể theo nguyên tắc có tài nguyên gì thì cứ khai thác, cứ đào
bới, cứ bòn mót, cứ cho thuê, cứ bán tháo theo kiểu bán lúa non lúc “giáp
hạt”; bất cần biết thế hệ con cháu mai sau có còn gì để sống hay không.
Không thể theo nguyên tắc cứ tiêu xài, cứ xa xỉ, cứ vay mượn nước
ngoài, cứ xà xẻo vốn liếng, bất kể đó là vốn trong nước hay vốn vay nước
ngoài để làm giàu cá nhân; bất chấp thế hệ con cháu mai sau có trả nổi
hay không, hay vì ngập đầu bởi món nợ đó mà mãi mãi bị giam hãm trong
vòng nghèo khổ và dốt nát; bất kể đất nước có vì thế mà suy sụp, mà tụt
hậu và mãi mãi sa vào vòng lệ thuộc ngoại bang hay không.
Chúng ta không thể chối cãi và rũ bỏ món nợ đó một khi chưa trả xong.
Có thể nào chúng ta lại vẫn im lặng và khoanh tay đứng nhìn như đã sai
lầm trước đây, sai lầm trong phút giây lịch sử đã đưa đất nước sa vào tình
cảnh tụt hậu và kém cỏi hiện nay. Lần này thì không phải riêng đối với
thế hệ công dân đã trưởng thành thời ấy mà bao gồm cả các thế hệ đã trưởng
thành đang độ tuổi công dân hiện nay, bao gồm tất cả những ai là người
Việt Nam yêu nước đang sống ở trong nước hay ngoài nước, bao gồm tất cả
những ai đang đứng trong hay đứng ngoài tổ chức đảng và bộ máy cầm quyền
đều phải chịu trách nhiệm trước Tổ quốc, trước lịch sử, bởi vì chúng ta
đang ở trên cùng một con tàu số mệnh, chúng ta đều có chung một Mẹ Việt
Nam. Nếu chúng ta lại mắc sai lầm một lần nữa trong thời khắc lịch sử này
thì rất có thể lần này sẽ là lần cuối cùng để rồi không còn cơ hội nào mà
mắc sai lầm nữa, bởi vì sẽ mãi mãi có còn gì đâu để mà mắc sai lầm. Chả
thế mà có người trong chúng ta – tức thế hệ công dân đã đến tuổi trưởng
thành và có trọng trách thuở ấy – khi từ giã cõi đời này mà vẫn còn tức
tưởi vì cảm thấy mình chưa làm hết và chưa nói hết những gì đáng lẽ phải
nói và phải làm trước đây, hoặc cũng vì thế mà có người lẽ ra đã được
thanh thản mà nhắm mắt xuôi tay thì vẫn còn vương vấn mà ra đi chưa đành.
Tôi xin ngàn lần kính cẩn cúi đầu trước vong linh và trước nhân cách của
những con người này, những con người mà tôi thực sự hết lòng kính trọng;
tôi kính trọng cả cung cách sống, cung cách ra đi lẫn nỗi bận bịu vấn
vương vì tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, vì nghĩa lớn đối với dân
tộc của từng người trong họ.
Đừng để chậm bước mà lỗi nhịp lịch sử, lỗi đạo với tổ tiên một lần
nữa hỡi người ơi!
Thế hệ của những người phải chịu trách nhiệm trực tiếp với sai lầm
lịch sử nói trên, người trẻ nhất giờ đây cũng đã bước vào độ tuổi U70 (từ
ngoài 60 đến 70 tuổi), còn lại tuyệt đại bộ phận thì đã ở độ tuổi U80 (từ
ngoài 70 đến 80 tuổi) và cao hơn nữa. Hầu hết trong số ấy hoặc vì tuổi tác,
hoặc vì sức khỏe nên đã rời bỏ chính trường, nhưng những người còn minh
mẫn, còn tâm huyết với vận mệnh đất nước, còn ý thức trách nhiệm với xã
hội, dù đang ở lứa tuổi U70, U80, thậm chí U90 thì họ vẫn cố gắng cảnh báo
và cảnh tỉnh xã hội về hiện tình nguy kịch của đất nước và phản biện tích
cực về các chủ trương sai trái của Đảng và Nhà nước, ngõ hầu bù đắp phần
nào những sai lầm lịch sử mà các vị đó vừa là chứng nhân, vừa là tòng
phạm – dù là tòng phạm thụ động thuở nào. Không ai nỡ lòng trách cứ các
vị ấy vì sự hạn chế tầm nhìn của của họ trong bối cảnh lịch sử lúc bấy
giờ. Sai lầm của họ âu cũng là một sản phẩm tất yếu của điều kiện lịch sử
cụ thể hồi ấy. Tuy nhiên, hiện nay tuy tuổi đã cao và không còn vai trò
lèo lái xã hội nữa, nhưng uy tín của các vị thuộc thế hệ ấy vẫn còn rất
cao trong ký ức và trong mắt của số đông quần chúng trong xã hội về những
gì tốt đẹp mà thế hệ ấy đã làm và đã đem lại cho đất nước, cho dân tộc
này. Tác dụng hiệu triệu, động viên và cảnh báo của các vị đối với xã hội
vẫn còn rất lớn. Các vị vẫn còn có thể đem uy tín, tinh thần trách nhiệm
cùng với sự dày dạn kinh nghiệm trong cuộc sống của mình để tác động một
cách tích cực đến hiện tình đất nước, để phân tích sai lầm lịch sử vừa
qua, để sao cho tên tuổi và sự nghiệp quang vinh còn đang bỏ dở của Đảng
được phục hồi, tức quá trình cách mạng dân chủ mà Đảng còn bỏ dở
lại được tiếp tục tái khởi động, để cái tên quang vinh của đất nước, của
nền cộng hòa đầu tiên mà cuộc cách mạng này đã khai sinh lại được tái
sinh, để bản Hiến pháp và nền pháp quyền mà nhà nước ấy đã khẳng định
lại được tái xác lập. Có vậy thì thế hệ các vị mới có thể thanh thản ra đi
mà không vấn vương và tức tưởi.
Hỡi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay! Các vị đang trên cương
vị là những người nắm vai trò bảo vệ Tổ quốc và quyết định tương lai đất
nước, vận mệnh của dân tộc. Tôi không biết các vị yêu nước đến đâu và tôi
không đánh giá thấp lòng yêu nước của các vị. Nhưng chắc không có ai
trong các vị có thể phủ nhận được tình trạng tụt hậu của đất nước hiện nay
so với mặt bằng chung của thế giới, cụ thể là so với các quốc gia láng
giềng kề cạnh.
Để khắc phục tình trạng
ấy mà không qua con đường phát triển dân trí, phát triển kinh tế và tiến
bộ khoa học kỹ thuật trên nền tảng của một xã hội dân sự và dân chủ của
một nhà nước pháp quyền thì ắt không còn con đường nào khác ngoài sự suy
vi và tụt hậu. Để
khắc phục tình trạng ấy bằng cái vỏ che hào nhoáng, lộng lẫy nhất thời
bên ngoài thông qua việc vơ vét và bán tháo tài nguyên, thông qua vay nợ
để tạo sự phát triển giả tạo, nhằm che đậy sự lạc hậu và rỗng tuếch của
nội dung bên trong là nếp nghĩ của những kẻ vụ lợi, háo danh và cơ hội,
không thể là cung cách của những bậc lãnh đạo quốc gia chân chính. Kẻ thất học không
thể bỗng chốc trở thành nhà trí thức vì được đội mão Cử nhân và mặc áo
thụng dài tay. Kẻ vũ phu không thể bỗng chốc trở thành người lịch sự vì khoác
chiếc áo sang trọng đắt tiền.
Đứng trước dã tâm bành trướng và xâm lược của một kẻ vừa là đồng
minh truyền thống, vừa là kẻ thù truyền kiếp, đứng trước một đối thủ
có thế và lực vượt trội, áp đảo hơn ta nhiều lần thì việc ứng xử cho phải
lối, cho đúng cách không phải là chuyện dễ, nhưng
để “tránh nạn binh đao cho đất nước” mà ứng xử bằng cách luôn nhân
nhượng, thỏa hiệp, lùi bước, khúm núm, van xin, cầu cạnh để người ta
“được đằng chân lân đằng đầu” như hiện nay thì không đúng với truyền
thống ứng xử khôn ngoan và khí phách anh hùng của cha ông chúng ta, không
đúng với tư thế của một dân tộc đã từng có một quá khứ lẫy lừng như dân
tộc chúng ta. Đối với người Việt nam thì không gì vinh dự và hãnh diện hơn bằng
được làm người đại diện cho một đất nước và một dân tộc như đất nước và
dân tộc chúng ta, không gì tội lỗi và đáng nguyền rủa hơn khi làm ô nhục
một đất nước và một dân tộc như đất nước và dân tộc chúng ta.
Khi giặc ngoài đang hung hăng lăm le bờ cõi mà thù trong lại thắng
thế và lộng hành là điềm mất nước nhãn tiền. Để ngặn chặn “chủ nghĩa dân tộc
cực đoan” mà lòng yêu nước và sĩ khí của dân tộc không những không được
phát động, không được hâm nóng, không được tập hợp mà lại bị kìm hãm và
trấn áp bởi chính các thế lực đang lãnh đạo đất nước thì không khác gì hành
động tự làm suy yếu tinh thần và sức mạnh đề kháng của dân tộc, tự trói
chân, trói tay dân tộc để chuẩn bị trước cho một ngày nào kẻ thù ung dung
kéo vào mà không cần tốn sức.
Đối phó với đối phương
mà toàn dân bị bịt mắt, bưng tai, bít miệng để rồi không biết gì về thời
cuộc và không biết gì về đối phương, đến nỗi khi giáp mặt với kẻ thù mà
cứ ngỡ rằng đang giáp mặt “kẻ lạ” (!?), để rồi khi lâm trận thì như một
lũ mù, lũ điếc, lũ câm, một lũ ngớ ngẩn thì làm sao không mất nước?
Đối phó với một kẻ mạnh đang âm mưu đóng cửa đánh mình mà chủ trương
đấu võ tay đôi không biết cầu hàng xóm láng giềng thì có khác nào là hành
động tự sát?
Trong khi chính kẻ có dã tâm còn đang ngần ngại trước công luận quốc
tế mà chưa dám ngang nhiên xâm phạm lãnh hải, xâm phạm biên giới bất khả
xâm phạm của Tổ quốc mà chúng ta lại chủ động mời họ tuần tra chung trên
biển của mình, cho họ thuê dài hạn đất ven biên giới và những nơi khác
nhạy cảm với an ninh quốc gia… rồi lại còn lên tiếng bênh những việc làm
lộng hành của họ trên Biển Đông tưởng làm thế là giữ được 16 chữ vàng,
tức giữ được “cái ghế” cho mình, thì có phải là giúp họ hợp thức hóa hành
vi xâm lược?
Đã “lỡ dại” mà “hứa dại” với “người lạ” thì sao
lại không biết dùng quyền phủ quyết của Quốc hội để sửa sai mà lại dùng
quyền uy để ép Quốc hội đồng thuận?
Ngày xưa An Dương Vương hỏi thần Kim Qui rằng giặc đang ở đâu và thần
Kim Qui chỉ rằng, giặc đang ngồi ở sau lưng bệ hạ đó!
Ngày nay, nếu các vị hỏi rằng giặc đang ở đâu thì bất cứ một người
dân yêu nước nào, nếu người đó không mù, không câm, không điếc và không mất
trí cũng có thể chỉ rằng:“Những kẻ đã trói tay và bịt mắt, bịt miệng xã
hội qua chiêu bài hãy bám “lề phải” mà đi, những kẻ đã đàn áp, cấm đoán,
truy tố những hành động của quần chúng phản đối nước ngoài xâm chiếm lãnh
hải, lãnh thổ của Tổ quốc, những kẻ đã tiếp tay cho người nước ngoài xâm
chiếm tài nguyên, chiếm cứ các vị trí xung yếu của Việt Nam như cảng
biển, đất biên giới, rừng đầu nguồn một cách lâu dài, những kẻ đã dùng
phương tiện của Đảng và bộ máy cầm quyền để nói hộ và tuyên truyền thay
cho quan điểm xâm lược của ngoại bang; tóm lại là những kẻ đã và đang
trực tiếp tiến hành một cách lén lút, hay công khai, hoặc làm ngơ dung
túng và ngầm cổ vũ những hành động sai trái, phản trắc nói trên. Những kẻ
đó đang trà trộn ngay trong hàng ngũ lãnh đạo và trong tất cả các cơ quan
và các bộ phận đầu não của Đảng và chính quyền nhà nước mà các vị đang
quản lý đó!”.
Để ngăn được giặc ngoài
điều đầu tiên là phải chặn được giặc trong.
Ngay trong đại hội đảng
bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
XI sắp tới, các vị cần có biện pháp cụ thể để phát hiện và loại trừ ngay
bọn “giặc trong”, kể cả những hậu duệ của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống và
Trọng Thủy thuở nào đang lẩn khuất trong hàng ngũ của chúng ta ra khỏi vị
trí hiện nay của chúng, không để chúng tiếp tục nối giáo cho giặc, tiếp
tục lũng đoạn nền chính trị nước nhà như vừa qua.
Các vị cần có cách phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả với các tầng lớp
yêu nước trong và ngoài nước, nhất là với các bậc tiền bối yêu nước và
trọng danh dự trong Đảng đang tích cực hoạt động và đang bức xúc với vận
nước hiện nay.
Tuy rằng Đảng Cộng sản Việt Nam
đang trong giai đoạn khủng hoảng lãnh tụ, tuy rằng đội ngũ cán bộ Đảng và
nhà nước Việt Nam chứa đựng trong nó rất nhiều khuyết tật, nhưng chắc
chắn rằng trong hàng ngũ đó vẫn có người kết tinh được tinh hoa của quần
chúng, còn mang trong người tình cảm, nếp nghĩ và lợi ích của quần chúng
nhân dân, còn chảy trong huyết quản giòng máu của cha ông, còn giữ được
trong tâm hồn khí thiêng của sông núi; chắc chắn những người đó không thể
nào không cảm nhận được tình thế “ngàn cân treo sợi tóc ” của vận nước
hiện nay.
Có thể sự hy vọng và chờ đợi của người viết bài này chỉ là ảo tưởng,
nhưng nếu những điều ấy không xảy ra thì Đảng cộng sản Việt nam làm sao
trả lời trước lịch sử:
Rằng ai đã làm cho đất nước suy vi lụn bại?
Rằng ai đã đưa đất nước vào nguy cơ lệ thuộc ngoại bang như hiện
nay?
Rằng ai đã đặt đất nước trước bờ vực diệt vong như hiện nay?
Nỗi nhục này ngàn đời không rửa sạch!
Món nợ hậu thế này ngàn đời không trả nổi!
Hỡi những kẻ lầm đường hãy sớm tỉnh ngộ!
HG
HT Mạng Bauxite Việt Nam
biên tập
Trích: Bauxite VN 15.6
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ &
Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ &
Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|