|
|
DC&PT - Thời
Sự 2010
Ôm
bám hệ thống độc quyền
Ngô Nhân Dụng
Việt Nam
mới giảm giá đồng tiền so với đô la Mỹ, lần thứ hai kể từ tháng 11 năm
ngoái. Kể từ tháng 6, năm 2008, thì đây là lần thứ tư đồng bạc Việt Nam
bị phá giá. Ðồng tiền bị áp lực của thị trường chợ đen đẩy xuống, trong
khi hối suất chính thức là 17,941 đồng lấy một đô la thì chợ đen trả gần
19,250 đồng. Chính quyền cộng sản muốn thu đô la vào hệ thống ngân hàng;
tăng giá Mỹ kim để những người có đô la đem tiền Mỹ tới đổi cho các ngân
hàng thương mại, thay vì đem đổi chợ đen được giá lời hơn. Sau khi bị phá
giá hai lần trong ba tháng, bây giờ ở các ngân hàng giá chính thức đồng
đô la cũng lên tới 19,100 đồng.
Nhưng liệu đảng Cộng Sản
có đạt được mục đích gom đô la vào trong các ngân hàng hay không? Tổng
giám đốc Ngân hàng Sacombank cho biết, trong năm 2009 đã chuyển gần một
tỷ đô la (850 triệu) tiền do người Việt ở nước ngoài gửi về, nhưng chỉ có
10% số tiền đó được những người nhận tiền bán lại cho ngân hàng này - tức là 90% những đồng đô la gửi về Việt Nam ra đi theo
con đường tìm về chợ đen. Nhà nước cộng sản hoàn toàn bất lực
không thể ngăn cấm chợ đen. Không thể đem công an ra đứng chỉ đường bắt
đô la Mỹ phải đi theo chỉ đạo của đảng. Những người tổ chức chợ đen mạnh
hơn cả công an, họ có thể chính là công an cùng với những kẻ nắm đầu công
an!
Việc tăng hối suất của
đồng đô la cho bằng giá chợ đen khó thu tiền Mỹ về cho các ngân hàng. Vì
khi có những người cần đi mua đô la ở chợ đen vì những lý do riêng, họ sẽ
sẵn sàng trả giá cao, thì sẽ có người bán đô la ở chợ đen. Những lý do
riêng đó là gì? Có hàng ngàn lý do khác nhau trong một nền kinh tế mờ mờ
ảo ảo, đa số những người kiếm nhiều tiền nhất không phải vì họ làm ăn,
kinh doanh giỏi, thành công, mà vì những lý do khác! Những người đó có đủ lý do để che giấu những đồng tiền
kiếm được, mà một cách giấu rất tiện là đổi lấy đô la Mỹ rồi đem chuyển
dần dần ra nước ngoài mà không phải đi qua hệ thống ngân hàng chính thức.
Người ta càng ngần ngại
đem tiền Mỹ đến gửi tại ngân hàng, vì lãi suất cho tiền đô la ký thác chỉ
có 1%. Khi còn nhu cầu đổi tiền chợ đen thì rất nhiều người sẽ sẵn sàng
đóng vai “ngân hàng đen,” tức là giữ đồng đô la, để chờ ngày đem ra đổi,
biết thế nào giá cũng sẽ tăng lên. Họ chỉ cần nhìn vào cung cách quản lý
nền kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam
là đoán được rằng giá đồng đô la sẽ còn tăng nữa.
Có
nhiều lý do khiến đồng bạc Việt Nam
xuống giá. Khi mối đe dọa lạm phát vẫn còn treo trên đầu mọi người, thì
đứng trước viễn ảnh giá sinh hoạt sẽ tăng tâm lý chung của người dân là
có đồng nào đem tiêu xài ngay, kẻo mai mốt tiền sẽ mất giá. Riêng
tâm lý lo sợ đó cũng khiến lạm phát trở thành sự thật; vì khi mọi người
thi đua đi mua sắm thì giá cả tất phải tăng lên! Hàng nhập cảng vào Việt
Nam, dù hàng tiêu thụ hay các nguyên liệu dùng vào việc sản xuất, hầu hết
phải trả bằng đô la Mỹ. Dù giá các món hàng đó không thay đổi trong thị
trường quốc tế, nhưng khi đô la Mỹ lên giá đối với tiền Việt Nam thì tự
nhiên đối với những người dân tiêu dùng tiền Việt các món hàng nhập cảng
đều tăng giá hết. Khi nhà nước tăng giá đô la Mỹ, người dân sẽ thấy là
mối lo lạm phát của mình có cơ sở vững chắc, họ càng tin tưởng thế nào
lạm phát cũng còn lên nữa. Lạm phát ở Việt Nam năm 2007 có lúc đã lên tới
60% một năm, năm 2008 giảm xuống còn 23%; năm ngoái đã giảm được xuống
dưới 7%, nhưng các nhà kinh tế tiên đoán năm nay lạm phát sẽ lên trên 7%.
Như vậy thì giảm giá đồng
bạc Việt Nam
đối với đô la Mỹ để làm gì nếu số đô la thu vào các ngân hàng chưa chắc
đã tăng mà mối lo lạm phát càng thêm nặng? Chúng ta khó biết những động
cơ nào đưa tới các quyết định kinh tế của một nhà nước cộng sản. Họ
thường quyết định trong vòng bí mật, với những lý do bí mật. Có một hồi ở
bên Nga người ta làm luật cấm không cho dùng xe với bánh lái bên tay phải
(Chỉ ở những nước luật đi đường bắt lái xe phía bên trái, như ở Anh Quốc,
Thái Lan, Nhật Bản, thì bánh lái mới đặt bên tay phải; còn ở Việt Nam,
Pháp, Mỹ, Nga, vân vân, dân lái xe đi bên phải thì bánh lái đặt bên
trái). Sau khi đã làm luật cấm các loại xe bánh lái bên phải một thời
gian, thì chính phủ Nga lại đổi luật, cho phép những chiếc xe nhập cảng
từ Nhật Bản, Anh Quốc được lưu hành!
Tại sao họ quyết định cấm,
rồi lại quyết định tha? Chỉ có thể giải thích rằng có một ông quan nào đó
ra lệnh cấm để tất cả những chiếc xe cũ mua từ Nhật Bản đem về bị mất
giá. Khi các xe đó xuống giá, ông và đồng đảng đi mua các loại xe đó cất
đi. Bao giờ mua đủ, các ông đổi luật, giá xe tăng lên trở lại, một vốn
bốn lời trong mấy tháng!
Rất khó tiên đoán được
kinh tế các nước cộng sản, vì những quyết định của quan chức không căn cứ
vào các quy luật thông thường. Quy luật quan trọng nhất của họ là chỉ
quyết định điều gì khi chính bản thân mình, gia đình mình, và các đồng
đảng ăn chia đều hưởng lợi.
Tham nhũng bằng cách ép
người ta đưa tiền cho mình là loại tham nhũng tép riu, dành cho các chú
công an, cảnh sát đứng đầu đường. Ðưa tiền trong bao thư ở văn phòng như
trong vụ xa lộ xuyên Sài Gòn cũng là chuyện nhỏ. Hành động tham nhũng làm
ra tiền nhiều nhất và chắc chắn nhất là thay đổi thủ tục, luật lệ và đưa
ra các quyết định chính sách kinh tế. Ăn tiền kiểu đó hoàn toàn hợp pháp,
mà lại chứng tỏ chính quyền “năng động” điều chính chính sách luôn luôn!
Nhưng thay đổi các chính
sách nhỏ giọt theo lối cò con đó có ích lợi gì trong việc quản lý kinh tế
nước ta hay không? Ông Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng Kế Hoạch Ðầu Tư
mới nói với tờ Thời Báo Kinh Tế rằng nhà nước cộng sản phải thay đổi toàn
diện, vì “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù
hợp.” Ông Giá nhận xét, “GDP tăng chủ yếu dựa
vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động
thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng
cao,...” Tình trạng phí phạm, mất mát đó là do hệ thống cai trị độc quyền
của đảng Cộng Sản, không thể nào sửa được vì sửa là đụng tới toàn thể hệ
thống cai trị.
Một mô hình được chế độ
cộng sản áp dụng từ thời Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt tới nay, là tập trung
tài nguyên quốc dân cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng, với những tổng
công ty và các tập đoàn kinh tế mà các đảng viên cộng sản nắm giữ. Ðó là công cụ để đảng Cộng Sản chiếm độc quyền kinh tế
thời xưa, nay vẫn còn giữ lại và củng cố cho lớn hơn. Những đại
công ty này chỉ tạo được công ăn việc làm cho dưới 20% tổng số người lao
động, nhưng được các ngân hàng của nhà nước trao cho 40% đến 45% tổng số
vốn cho vay! Còn các xí nghiệp tư nhân, tạo công việc làm cho 80% người
lao động thì bị ép khi cần vay vốn. Những người
sử dụng vốn kém nhất thì lại được ưu đãi cho vay vốn; còn những người có
khả năng, biết đem tiền đầu tư tạo ra nhiều của cải hơn thì phải đúng bên
lề. Vì vậy, năng suất của cả nền kinh tế rất thấp, so với các nước khác.
Một chỉ số do năng suất
chung của một nền kinh tế là tỷ lệ giữa số tiền cần đầu tư để tạo ra một
đơn vị của cải mới. Nếu muốn tạo ra thêm một đồng trong Tổng Sản lượng
Nội Ðịa mà anh cần 50 xu đầu tư, thì hiệu năng của anh thấp hơn một người
chỉ dùng 10 xu cũng tạo thêm được một đồng trong GDP. Chỉ số 50% hay 10%
trên đây gọi tên là ICOR (Incremental Capital Output Ratio); chỉ số này
càng thấp chứng tỏ nền kinh tế càng có hiệu năng cao.
Chỉ số ICOR của Việt Nam
rất cao, trung bình là 5.2, tức là cần 5.2 xu đầu tư mới tạo thêm được
một đồng của cải mới trong GDP. Nam Hàn, vào các thập niên 1960, 70 có
chỉ số ICOR là 3, chỉ cần 3 xu đầu tư cũng tăng thêm được một đồng của
cải mới. Trong thời gian đó, kinh tế Nam Hàn tăng lên với tỷ số 7, 9% một
năm, còn Việt Nam mấy năm nay chỉ tăng với tốc độ 7.7%. Thái Lan trong giai
đoạn kinh tế đang lên như vậy cũng tăng nhanh hơn, 8.1% một năm, mà chỉ
số ICOR cũng tốt hơn Việt Nam, chỉ có 4.1.
Tại sao kinh tế Việt Nam
hiệu năng yếu kém như vậy? Không phải vì người Việt Nam làm việc kém
thông mình hay là vốn tính lười biếng. Lý do
chính là hệ thống kinh tế độc quyền của đảng Cộng Sản chỉ ăn bám vào nền
kinh tế chứ không đóng góp cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa bằng số tài nguyên
mà họ rút ra dùng. Trước đây các nước Nga và Ðông Âu sụp đổ cũng
vì tình trạng đó. Nhưng nay đảng Cộng Sản Việt Nam không lo, dù kinh tế
yếu kém, các cán bộ và lãnh tụ vẫn ăn no và làm giầu. Ai muốn xin cho dân
được hưởng thêm chút quyền dân chủ tự do thì bắt bỏ tù!
Ngoài ra, bọn tham quan ô
lại khiến cho các nhà kinh doanh tư ai cũng phải đóng thêm những thứ thuế
ngoài lề, tức là tiền hối lộ. Tham nhũng, hối lộ là những cản trở nặng nề
cho sự phát triển kinh tế.
Tại
sao đảng Cộng Sản cứ bám lấy các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ hệ thống
thư lại tham nhũng rút ruột kinh tế cả nước? Bởi vì họ không biết một đường
nào khác ngoài hệ thống cai trị từ thời Hồ Chí Minh để lại. Rời bỏ hệ thống cai trị độc quyền thì không những các
lãnh tụ cộng sản sợ bị mất tiền, mất quyền, mà còn lo mất mạng và con
cháu bị mang họa nữa. Cho nên ngay bây giờ
đã có phong trào chuyển của cải ra nước ngoài, chuyển cả gia đình, con cháu
sang các nước Âu, Mỹ, Úc. Những người Việt làm ăn lương thiện có
chút tiền nhìn vào cảnh đó cũng lo đi sang các nước Âu, Mỹ sinh sống. Làm sao chuyển tiền bạc từ Việt Nam
ra ngoài? Phải đổi lấy đô la Mỹ. Ðó là lý do chợ đen đô la không thể nào
biến mất được. Nó đáp ứng nhu cầu của một chế độ vào lúc xế chiều ai cũng
muốn chuyển tiền đi!
Trích: Người Việt
15.2
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|