|
Ngô Nhân Dụng
Số quốc gia mà người dân được tự do bầu cử đã tăng
lên thành 122 nước, so với năm 2004 chỉ có 119 nước hồi 5 năm trước
đây. Ba nước mới được lên bảng vàng đều ở Phi Châu, là Burundi,
Liberia
và Cộng Hòa Trung Phi. Nước sau cùng này thì nhiều người Việt mình đã
biết, đó là quê hương của ông Bokassa, một cựu trung sĩ trong quân đội
thuộc địa Pháp. Ông đã có một bà vợ Việt Nam, đã đảo chính, lên làm
tổng thống năm 1965 rồi sau đó tự xưng là hoàng đế! Tuy Cộng Hòa Trung
Phi đã trở lại với một hiến pháp dân chủ từ năm 1979, nhưng đến năm nay
mới được vô bảng vàng, vì nước họ chứng tỏ đã có bầu cử tự do thật,
chính quyền chấp nhận các hoạt động chính trị đối lập.
Bảng
danh sách của Freedom House phân biệt ba loại chế độ: Tự do, Hơi Tự do,
và Không Tự do. Có 89 quốc gia được coi là tự do thật, người dân trong
các nước đó có đủ các quyền tự do dân sự, chính trị. Có 58 nước được
xếp hạng hơi tự do. Việt Nam và Trung Quốc đều thuộc loại thứ ba, thiếu
tự do, nhưng không đến nỗi đứng cuối sổ như Cuba, Bắc Hàn, Miến Ðiện.
Freedom
House nâng điểm hai nước, Indonesia và Ukraina, từ “hơi tự do” lên “tự
do” nhờ các cuộc bầu cử tự do và hoạt động của báo chí, đảng đối lập
mạnh hơn trước.
Tổ
chức Freedom House cũng khắt khe bầy tỏ sự quan ngại đối với các chế độ
dân chủ ở Mỹ và Pháp. Nhược điểm được nêu lên ở Mỹ là chính sách cho
phép các Quốc Hội tiểu bang chia khu vực, địa giới đơn vị bầu cử. Các
đại biểu đã lợi dụng chính sách này mà cắt xén, xoay sở, bóp méo ranh
giới, bảo vệ đủ số cử tri ủng hộ cho họ hoặc đảng của họ. Vì thế phần
lớn các đại biểu Quốc Hội Mỹ tái tranh cử đều thắng. Freedom House phê
bình là chính sách này, gọi là gerrymandering, làm giảm tính cách đại
diện của người dân trong Quốc Hội, nhận xét đó rất đúng. Nước Pháp cũng
bị phê bình là không hội nhập được những công dân gốc ngoại quốc, nhất
từ là Phi Châu.
Nói
chung, mỗi năm thế giới vẫn tiến thêm trên con đường dân chủ hóa. Từ
những năm cuối thế kỷ 20 đến nay, có rất nhiều quốc gia đã chuyển từ
chế độ độc tài sang lối sống dân chủ, giống như một cơn sóng tự do lan
tràn trên mặt trái đất.
Có
thể coi như phong trào này bắt đầu từ bán đảo Iberia, Âu Châu, từ 30
năm trước đây. Nước Bồ Ðào Nha, sau nhiều năm sống dưới chế độ độc tài
của Antonio Salazar (1932-1968) và các tướng lãnh, đã thiết lập một bản
hiến pháp mới theo chế độ dân chủ đại nghị vào năm 1976, và hai năm sau
Tây Ban Nha cũng theo gót, nhờ nhà độc tài Franco đã chết từ năm 1975.
Từ khi dân chủ hóa, đời sống kinh tế hai quốc gia này đã tiến triển để
theo kịp các nước khác ở Tây Âu. Những năm sau đó, loài người đã chứng
kiến luồng sóng dân chủ tự do tràn qua các nước Cộng Sản Ðông Âu, Châu
Mỹ La tinh, và cơn sóng càng lên mạnh hơn trong số các nước phía Ðông
Châu Á, nơi người dân đấu tranh cho dân chủ liên tục từ thập niên 1960.
Trong ba chục năm qua, làn sóng dân chủ tự do đã lên, hiện nay 43% nhân
loại đang được sống trong tự do dân chủ đầy đủ, và 30% hơi tự do dân
chủ.
Theo
nhiều nhà nghiên cứu, trong lịch sử thế giới có nhiều cơn sóng dân chủ
tự do nổi lên rồi bị đẩy lùi, lần này là lần thứ ba đang lên và hy vọng
sẽ không lùi nữa. Cơn sóng dân chủ đầu tiên diễn ra vào cuối thế kỷ 18
sang thế kỷ 19 ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ðợt sóng này lan ra rất chậm, bắt
đầu từ những cuộc cách mạng ở Hoa Kỳ, ở Pháp, dần dần tới những nước Âu
Châu khác. Cơn sóng dân chủ đó đã gặp phải nhiều tảng đá ngầm cản trở,
đôi lúc phải dội lại và thoái trào. Có những quốc gia trở thành dân chủ
rồi lại thụt lùi trở lại chế độ quân chủ hoặc đế quốc, như ở Pháp, Ý,
Ðức, vân vân. Ðiều này chứng tỏ việc thiết lập thể chế dân chủ hình
thức, bằng cách thông qua một bản hiến pháp dân chủ, không đủ bảo đảm
cho người dân được sống tự do thật sự và lâu bền. Trong một bài khác
chúng ta sẽ coi những điều kiện nào cần thiết để chế độ dân chủ có thể
bền vững.
Ðợt
sóng dân chủ tự do thứ nhì lan ra trên thế giới sau cuộc đại chiến thứ
nhất vào đầu thế kỷ trước, kéo dài cho tới một phần ba thế kỷ. Một khẩu
hiệu đầu tiên được nêu lên là đòi hỏi quyền tự quyết dân tộc. Những
nước mới giành được độc lập sau các cuộc đại chiến đã quyết định thiết
lập thể chế dân chủ, tự do. Ðợt sóng dân chủ tự do thứ nhì cũng gặp
những chướng ngại và thoái trào. Chúng ta đã thấy những quốc gia như
Ðức, Ý, có lúc đã quay trở lại chế độ độc tài đảng trị, và ở Nga thì
cuộc cách mạng dân chủ chưa được một năm đã rơi vào nội chiến để tiến
tới một thể chế độc tài kéo dài hơn 70 năm, với một đảng duy nhất cai
trị, trong thực tế là chỉ có một nhóm hay một người thao túng. Sau Thế Chiến
Thứ Hai, nhiều nước cựu thuộc địa đã giành được cũng thiết lập các chế
độ dân chủ. Tuy nhiên, sau đó thế giới bước ngay vào thời kỳ chiến tranh
lạnh khiến cho trong cả hai khối tư bản và Cộng Sản người ta có khuynh
hướng duy trì các chế độ độc tài để dễ đối phó với khối bên kia. Những
nước đứng giáp đường giới tuyến của hai khối càng khó thay đổi vì bị gây
nội chiến hoặc chia rẽ. Bên khối tư bản, các nước như Hàn Quốc, Ðài Loan,
Singapore, Thái Lan, Phi Luật Tân, Indonesia vân vân, khó tiến nhanh trên
đường dân chủ hóa vì họ bị họ đe dọa trực tiếp với những phong trào nổi
dậy ngay ở trong nước họ. Các chính quyền độc đoán viện lý do an ninh mà
kìm hãm sự phát triển của các quyền tự do chính trị và tự do dân sự. Các
nước bên giới Cộng Sản thì không để cho các quyền tự do phát triển vì các
đảng Cộng Sản chủ trương chuyên chính vô sản.
Cơn
sóng dân chủ tự do thứ ba trong lịch sử chỉ khởi sự trào lên khi Chiến
Tranh Lạnh bắt đầu bớt căng thẳng. Lúc đầu là Liên Xô và Mỹ thương
thuyết chính sách hòa dịu, giảm bớt vũ khí hạt nhân. Rồi Mỹ với Trung
Quốc gặp gỡ bắt tay nhau. Thế giới chung quanh dần dần cảm thấy bớt bị
đe dọa nên nhu cầu thay đổi chính trị dâng lên trong hàng chục năm. Bồ
Ðào Nha và Tây Ban Nha có thể xóa bỏ chế độ độc tài vì cả hai nước nằm
trong khối tư bản nhưng không bị đe dọa bởi những phong trào nổi dậy
theo chủ nghĩa Cộng Sản. Dân chúng ở những nước Ðài Loan, Hàn Quốc,
Thái Lan, Phi Luật Tân, nhất là giới sinh viên, thanh niên đã từng đấu
tranh quyết liệt đòi dân chủ từ thập niên 1970, nhưng họ cũng chỉ bắt
đầu được hưởng tự do từ giữa thập niên 70, sau khi tình hình thế giới
biến chuyển hòa dịu hơn và mối đe dọa của khối Cộng Sản giảm bớt. Nhiều
quốc gia khác phải đợi cho tới khi gặp khủng hoảng kinh tế mới thật sự
bước vào quá trình dân chủ hóa. Ở Trung Âu và Ðông Âu trong những năm 1980,
đó là tình hình kinh tế trì trệ trong khối Xô Viết vì quản lý không hiệu
quả. Phong trào Công Ðoàn Ðoàn Kết ở Ba Lan, các nhà trí thức đòi phát
triển xã hội công dân ở Tiệp Khắc, người dân Ðông Ðức và Hungary cũng đứng
dậy, đưa tới sự sụp đổ của bức tường Berlin. Ở Á Ðông, những cải thiện
chính trị đã bắt đầu và cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 thúc đẩy thêm
cho tiến trình dân chủ hóa những bước nhanh chóng và vững vàng. Sau năm
1997, các chế độ còn vết tích độc đoán ở Hàn Quốc, Ðài Loan, Indonesia bị
lật đổ bằng lá phiếu. Các biến cố đó xẩy ra được cũng là nhờ lúc đó Chiến
Tranh Lạnh giữa hai khối tư bản và Cộng Sản đã chấm dứt.
Làn
sóng dân chủ hóa thứ ba này đi đôi với hiện tượng kinh tế toàn cầu hội
nhập với nhau chặt chẽ hơn, đưa tới việc cải thiện mức sống và giảm bớt
nạn nghèo đói trên thế giới. Một thước đo của sự cải thiện này là tỷ lệ
những người còn sống với lợi tức dưới 2 đô la Mỹ một ngày, khoảng 30
ngàn đồng Việt Nam cho mỗi người, theo giá tiền năm 2005. Vào năm 1980
trên thế giới có 56% nhân loại còn sống trong cảnh nghèo như vậy, đến
năm 2000 tỷ số đó chỉ còn 23%. Nếu nhớ rằng dân số trên trái đất luôn
luôn gia tăng chúng ta càng thấy sự cải thiện trên là rất đáng kể. Vào
năm 1980 thế giới có 1.9 tỷ người sống trong cảnh nghèo, năm 1990 chỉ
còn 1 tỷ 7, đến năm 2000 chỉ còn một tỷ mốt. Một điều đáng chú ý nữa là
trước năm 1980, trước khi làn sóng dân chủ lan tràn, số người sống
trong cảnh nghèo theo định nghĩa trên chỉ tăng thêm chứ không giảm. Sự
cải thiện trong đời sống kinh tế đi đôi với phong trào dân chủ hóa cho
thấy khi người dân được tự do hơn, trong đó được hưởng những quyền tự
do kinh tế, thì loài người cũng được no ấm nhiều hơn. Từ năm 1980, theo
báo cáo của Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, có 81 quốc gia đã tiến bước
trên đường dân chủ hóa đáng kể, trong đó có 33 nước đổi từ chế độ quân phiệt
sang chế độ dân chủ. Theo Liên Hiệp Quốc, có 140 quốc gia trong số khoảng
200 nước trong thế giới hiện đã có bầu cử tương đối tự do, và 81 quốc
gia trong số đó thực sự có tự do, tức là khoảng 60% nhân loại. Bản xếp
loại này lạc quan, rộng rãi hơn Freedom House, cũng dễ hiểu vì các quốc
gia trên đều nằm trong tổ chức Liên Hiệp Quốc.
Cơn
sóng dân chủ hóa thứ ba cũng gặp những trở ngại, có lúc quay ngược
chiều và không lan rộng đồng đều. Có những quốc gia đã thiết lập thể
chế dân chủ sau đó lại rơi xuống, trở về sống dưới một chính quyền độc
tài, như ở Peru, Pakistan.
Ðiều này cho thấy những điều kiện thúc đẩy một quốc gia tiến tới chế độ
dân chủ khác với những điều kiện để nôi dưỡng cho chế độ dân chủ được
vững bền. Làn sống dân chủ cũng bị ngăn lại ở nhiều nơi không vào được.
Trong số những nước thuộc Liên Bang Xô Viết cũ, nhiều nước vẫn còn giữ
chế độ độc tài, như Ukraina và Georgia đến năm ngoái mới tự giải thoát;
nhưng Kyrgyzstan vẫn là một nước độc tài hủ lậu hạng nhất. Ở Á Ðông thì
Trung Quốc, Việt Nam,
Lào, Miến Ðiện vẫn chưa có tự do tuyển cử. Lại có những quốc gia thiết
lập một chế độ dân chủ hình thức nhưng người dân vẫn chưa được tự do,
như ở nhiều nước Trung Á khác. Chúng ta thấy dân chủ hình thức, tức là
có hiến pháp, có tuyển cử không nhất thiết đưa tới có dân chủ tự do
thật sự nếu người dân chưa được hưởng những quyền tự do chính trị và tự
do dân sự. Mà điều người dân cần là được sống tự do, không phải chỉ là
được đi bầu hay ứng cử. Chúng ta cần phân biệt tự do và dân chủ, không
phải lúc nào cũng đi đôi.
|