|
DC&PT -
Thời Sự 2010
Nguyễn Trung
I. Vinashink – Con tàu
không bến
Với hơn 85 triệu
người Việt Nam, chuyện các công ty quốc doanh hay các tập đoàn Nhà nước làm
ăn thua lỗ nợ nần triền miên không là chuyện lạ. Do vậy, chuyện Vinashin
chìm ngập trong nợ nần và trở thành Vinashink không phải là chuyện mới mẻ
với người dân Việt Nam.
Sau khi con tàu
Vinashin trở thành Vinashink thì đương kim Thủ tướng – ông Nguyễn Tấn Dũng
– đã có kế hoạch “tái cấu trúc” con tàu Vinashink. Việc “tái cấu trúc” một
doanh nghiệp cũng không có gì là lạ. Bởi vì mụch đích của việc “tái cấu
trúc” một doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả là để doanh nghiệp hoạt động
tốt hơn lúc trước.
Vậy thì, liệu kế
hoạch “tái cấu trúc” của ông Thủ tướng vốn từng làm Y tá Nguyễn Tấn Dũng
có thể cứu Vinashink thoát khỏi nợ nần để trở thành Vinashin như ông Thủ
tướng và bộ sậu dưới quyền hy vọng và mong đợi hay không? Hay tệ hại hơn
Vinashink sẽ mãi mãi chìm sâu dưới đáy biển bởi vì bài toán “tái cấu trúc”
Vinashink là một phương trình không có nghiệm.
Đến lúc này, kế hoạch “tái cấu trúc” Vinashink chỉ mới bắt đầu.
Do đó, câu trả lời cho những câu hỏi trên đây còn đang ở phía trước. Bởi lẽ,
việc vực dậy một công ty đang chìm trong nợ nần thua lỗ có thể cần một thời
gian từ 2 năm, 5 năm, 10 năm, và cũng có thể là công ty không bao giờ hồi
sinh bởi đi không đúng hướng.
Nhưng nếu dựa vào
những con số thực từ những người lãnh đạo quan trọng của Vinashink và lãnh
đạo Chính phủ thì có thể thấy trước một tương lai mù mịt đầy đen tối đang
chờ Vinsahink. Bởi vì, kế hoạch “tái cấu trúc” Vinashink của ông Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng không có điều gì khả quan ngoài những bất cập.
Thứ nhất. Việc chuyển nợ 20.000
tỷ đồng – tương đương 1 tỷ USD – cho PVN và Vinalines (1).
Chuyện tách rời
các công ty con của Vinashink để nhập vào các tập đoàn nhà nước khác trong
kế hoạch “tái cơ cấu” Vinashink là chuyện có thể chấp nhận. Nhưng việc
Chính phủ cho phép “chuyển số nợ 1 tỷ USD” cho hai công ty PVN và
Vinalines là việc làm không thể chấp nhận.
Việc chuyển 1 tỷ
USD nợ cho PVN và Vinalines chỉ có thể chấp nhận với điều kiện là PVN và
Vinalines chỉ giúp Vianshink trả món nợ 1 tỷ USD trước mắt. Còn về lâu về
dài thì Vinashink vẫn phải có trách nhiệm hoàn trả lại món nợ 1 tỷ USD này.
Đơn giản, Vinashink gây ra số nợ này thì Vinashink phải chịu trách nhiệm.
Bởi vì, cho dù PVN và Vinalines có khả năng trả khoản nợ 1 tỷ USD này
giúp cho Vinashink, nhưng nếu Vinashink không hoàn trả lại món nợ ân tình
1 tỷ USD này thì có nghĩa ngân sách Quốc gia – hay 85 triệu dân Việtnam –
đã mất đi 1 tỷ USD. Lại bài ca “bù lỗ” muôn thuở mà hơn 85 triệu đã nhàm
tai – nhưng “bù lỗ” 1 tỷ USD thì quả là khó mà chấp nhận.
Thứ hai. Không minh bạch trong
con số nợ của Vinashink.
Theo lời ông tân
TGĐ Trần Quang Vũ thì “Vinashin đã thành công trong 2 đợt phát hành
trái phiếu liên tiếp 750 triệu, rồi 600 triệu USD” (2). Như vậy, số nợ
của hai đợt trái phiếu là 1 tỷ 350 triệu USD.
Ngoài số nợ qua
hai lần phát hành trái phiếu 1 tỷ 350 triệu USD trên đây, “Số liệu đã
biết cho thấy ngoài phần trái phiếu Chính phủ, còn có khoảng 600 triệu USD
Tập đoàn này tự vay của nước ngoài, không có bảo lãnh của Chính phủ” (3).
Vậy thì, kể cả
số nợ qua hai lần phát hành trái phiếu do Chính phủ bảo trợ là 1 tỷ 350 triệu
USD và 600 triệu USD mà Vinashink tự đi vay thì số nợ của Vinashink là 2
tỷ USD – làm tròn!
Trong khi đó, theo
buổi họp báo do ông Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng chủ trì chiều ngày 4
tháng 8 thì […Tháng 6/2010, tổng tài sản của Vinashin khoảng 104.000 tỷ
đồng nhưng gánh khoản nợ 86.000 tỷ đồng….] (4).
86.000 tỷ đồng tương đương 4 tỷ
USD. Câu hỏi được đặt ra ở đây là vì sao tổng số nợ của Vinashink lên
đến 4 tỷ USD? Trong khi đó, tổng số nợ cả do Chính phủ bảo lãnh và
do Vinashink tự đi vay chỉ có 2 tỷ USD!
Ai đã thò tay ký
giấy để vay, để gây thêm món nợ 2 tỷ USD dôi ra kia và mượn vào lúc
nào? Nơi nào đã cho Vinashink vay món nợ này? Và đã cho Vinashink vay với
điều kiện gì? Tại sao Chính phủ mà người đại diện là ông PTT Nguyễn Sinh
Hùng vốn quen ăn to nói lớn thế mà lại không trình bày rõ vì sao có sự
chênh lệch 2 tỷ USD này cũng như làm rõ nguyên nhân vì đâu mà phát sinh
món nợ đó? Là một Tiến sĩ kinh tế (chắc không phải bằng dỏm?), có quá khó
khăn để ông PTT Nguyễn Sinh Hùng không nhận biết sự chênh lệch khủng khiếp
đến như vậy hay không?
Thứ ba. Những
con số ma – con số tổng giá trị hợp đồng của Vinashin bị khách hàng hủy bỏ
vào năm 2008.
Theo lời ông tân
Tổng Giám đốc (TGĐ) điều hành của Vinashink Trần Quang Vũ thì […..Khi Vinashin
bắt đầu đóng tàu thì thị trường rất tốt, tàu tranh nhau đóng, các đơn đặt
hàng rất nhiều. Đỉnh điểm có lúc chúng tôi ký được trên 5 tỷ USD đơn
hàng, thậm chí 10 tỷ USD.….] (đã dẫn 2).
Còn theo buổi họp
báo do ông Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng chủ trì chiều ngày 4 tháng 8
thì […..Năm 2008 do khủng hoảng tài chính toàn cầu, thị trường xuất khẩu
bị thu hẹp, Vinashin chịu tác động mạnh với số lượng hợp đồng bị hủy trị
giá tới 8 tỷ USD. Riêng năm 2010, con số này là 700 triệu USD…] (đã dẫn
4).
Trong khi đó, theo
lời của ông Phạm Thanh Bình trả lời báo chí trước khi bị bắt thì [….Khi
trong tay tôi đã có cả mớ hợp đồng đóng tàu trị giá tới 17 tỷ USD
mà tôi không đầu tư thì làm sao đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng….] (5).
Một ông tân TGĐ,
một ông PTT, và một ông cựu TGĐ không có sự thống nhất trong con số giá
trị của hợp đồng bị hủy của Vinashink. Tại sao con số ông tân TGĐ Trần Quang
Vũ đưa ra là “trên 5 tỷ USD, thậm chí 10 tỷ USD”? Trong
kinh doanh, không có từ “thậm chí” bao giờ! Chỉ có thể “Chúng tôi đã ký
được 5 tỷ” hoặc là “Chúng tôi đã ký được 10 tỷ” chứ không có
“thậm chí”!
Và con số giá trị
hợp đồng 8 tỷ USD trong buổi họp báo chiều ngày 4 tháng 8 ở đâu
chui ra? Tiếp đến là con số 17 tỷ USD như lời ông cựu Phạm
Thanh Bình trả lời báo chí?
Dù hợp đồng đã
bị hủy, nhưng thiết tưởng việc soát lại giá trị các hợp đồng không phải là
khó. Việc làm một phép tính cộng đơn giản để biết được tổng giá trị các hợp
đồng cũng không phải là quá khó khăn. Tại sao lãnh đạo của Vinashink và
lãnh đạo của Chính phủ không biết được, không thể đưa ra con số thực của
những hợp đồng bị hủy là bao nhiêu? Để rồi mỗi người đưa ra một con số
khác nhau như vậy?
Có ba cách hiểu
khi nhìn vào những con số 5 tỷ USD (thậm chí 10 tỷ USD), 8
tỷ USD và 17 tỷ USD mà các ông tân cựu TGĐ và ông PTT đưa ra
như sau.
- Một là. Các ông
này không không biết làm phép tính cộng đơn giản. Phép tính cộng mà những
ai học hết lớp 5 là có thể làm được.
- Hai là. Các ông
này là những người vô trách nhiệm. Cả hai ông tân cựu TGĐ và ông PTT Nguyễn
Sinh Hùng là những người không có trách nhiệm với Vinashink và với Nhân
Dân.
- Ba là. Các ông
là những người nói láo để lừa Nhân Dân và những con số này đều không đáng
tin cậy.
Dù là cách hiểu
nào đi chăng nữa thì thật là đáng buồn khi mà những người có trách nhiệm quản
lý một doanh nghiệp được mệnh danh là con tàu cứu cánh của nền công nghiệp
đóng tàu lại thiếu trách nhiệm, quan liêu, và kém cỏi trong tính toán đến
ngô nghê như vậy.
Thứ tư. Sự cố
tình đánh lận con đen, sự lập lờ về con số giá trị hợp đồng bị hủy trong
năm 2008.
Giá trị hợp đồng
đóng tàu bị khách hàng hủy bỏ là 8 tỷ USD – tạm dùng con số của ông
PTT Nguyễn Sinh Hùng. Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ thì “Mỗi tàu
100.000 tấn là 100 triệu USD, tàu 350.000 tấn là hơn 200 triệu USD” (đã dẫn
2). Và cũng cứ tạm cho rằng giá trị tàu 350.000T là 250 triệu USD.
Xin tạm đặt giả
thuyết là 8 tỉ USD này là hợp đồng để đóng hai loại tàu 100.000T và
350.000T và chia đồng 4 tỷ USD cho mỗi loại tàu. Vậy thì, với hợp đồng 4
tỷ USD, Vinashink đóng được 40 con tàu loại 100.000T. Còn với loại tàu 350.000T
thì với giá trị hợp đồng 4 tỷ USD, Vinashink đóng được 16 tàu.
Như vậy, nếu
giá trị hợp đồng 8 tỷ USD của năm 2008 không bị khách hàng hủy bỏ thì Vinashink
phải đóng được 40 tàu 100.000T và 16 tàu 350.000T! Tổng cộng là 56 tàu để
giao cho khách hàng. Một con số kỷ lục đáng nể và đáng mừng – nhưng là điều
không tưởng đối với Vinashink – vì Vinashink không có khả năng làm chuyện
này!
Qua đó, chỉ có
thể hiểu rằng giá trị hợp đồng 8 tỷ USD là giá trị của hợp đồng đóng
tàu kéo dài nhiều năm. Có thể có những hợp đồng mà phải đến năm 2013-2015
hoặc hơn, Vinashink mới giao tàu cho khách hàng. Năm 2008, khủng hoảng
toàn cầu ảnh hưởng đến kinh tế là điều không thể chối cãi. Nhưng chưa chắc
khách hàng sẽ hủy bỏ hết hợp đồng – nhất là những hợp đồng đến những năm
2013-2015, hoặc hơn mới giao tàu. Bởi lẽ, chưa chắc những hợp đồng này đã
bị ảnh hưởng trực tiếp từ cơn khủng hoảng của năm 2008!
Theo lời ông tân
TGĐ Trần Quang Vũ “Chúng tôi sẽ dùng tiền thu về từ việc sang nhượng công
ty để tập trung các dự án dở dang. Có những tàu khoảng 1 tỷ USD chúng tôi
chỉ còn thiếu 300-400 triệu USD là có thể hoàn thành” (đã dẫn 2). Điều
này chỉ rõ khả năng Vinashink chỉ có thể hoàn thành số hợp đồng có giá trị
từ 1–2 tỷ USD trong một năm! Và điều này khẳng định con số giá trị hợp
đồng 8 tỷ USD là một giá trị hợp đồng kéo dài trong nhiều năm là
đúng – không thể chối cãi.
Và cho dù khách
hàng có hủy bỏ những hợp đồng yêu cầu giao tàu từ năm 2013-2015 thì Vinashink
vẫn không bị ảnh hưởng trực tiếp hay bị thiệt hại trực tiếp trong khoảng
thời gian 2008-2010. Và cho dù Vinashink có bị ảnh hưởng thì cũng không
thể nào bị ảnh hưởng nặng nề để dẫn đến ngập chìm trong nợ nần đến như vậy.
Bởi lẽ, Vinashink chưa tốn đồng xu cắc bạc nào để đầu tư cho những con
tàu này. Không một công ty nào lại ngu ngốc đi đóng tàu những 5-7 năm trước
ngày giao tàu cho khách trong hợp đồng. Nhất là những con tàu chỉ cần thời
hạn 1-2 năm là có thể hoàn thành.
Còn nếu Vinashink
bị thiệt hại trực tiếp vì Vinashink đã đầu tư các nhà máy đóng tàu sau
khi có hợp đồng 8 tỷ USD – hay theo như lời ông cựu Phạm Thanh
Bình [….Khi trong tay tôi đã có cả mớ hợp đồng đóng tàu
trị giá tới 17 tỷ USD mà tôi không đầu tư thì làm sao đáp ứng được nhu
cầu của khách hàng….] thì những khách hàng của Vinashink là
những khách hàng ngu ngốc – những khách hàng thuộc loại trong đầu chứa đầy
đất sét.
Bởi lẽ, không khách
hàng nào lại đi ký hợp đồng đóng tàu có giá trị cả 8 tỷ USD khi mà
đối tác chưa có cơ sở sản xuất, chưa có nhà máy để đóng hoàn thiện các
con tàu mà khách hàng muốn mua. Xin thưa, các công ty vận tải đường biển
nước ngoài thường là các công ty tư nhân. Chủ cả của các công ty này thường
là triệu phú hay tỷ phú sau nhiều năm gây dựng sự nghiệp trong thương trường.
Với họ, thương trường là chiến trường chứ không phải nơi trà dư tửu hậu để
làm nơi giải sầu tiêu khiển với những hợp đồng nửa vời.
Những người chủ,
lãnh đạo các công ty vận tải đường biển này là những người khôn nẻ vỏ chứ
không phải dân ngu si mà có thể bị lừa bởi cái cung cách làm ăn theo lối tiểu
thương “mượn đầu heo nấu cháo”. Cung cách làm ăn ma mãnh này của
dân lường gạt, phường ma mãnh chỉ có thể dùng với những người nhẹ dạ cả
tin ngu ngốc mà thôi. Cò đối với những tay trùm này thì đừng có nằm mơ!
Còn nếu Vinashink
có thể thuyết phục khách hàng đặt mua số lượng tàu có giá trị đến 8 tỷ
USD mà Vinashink chưa có cơ sở sản xuất, nhà máy để hoàn thành số hợp
đồng này thì đây là một điều kỳ tài của ông Phạm Thanh Bình và bộ sậu dưới
trướng.
Nhưng đây là một
điều đáng buồn hơn đáng vui. Bởi vì, Vinashink đã đi lường gạt khách hàng.
Do đó, một khi khách hàng biết được sự gian dối này của Vinashink thì tất
cả “thượng đế” đã bỏ Vinashink ra đi không một lời từ giã là điều dễ hiểu.
Trong môi trường kinh doanh lành mạnh, nhất là vào cái thời Việt Nam đã
gia nhập WTO, thì những kiểu làm ăn với đầu óc tiểu thương, quen thói lường
gạt chỉ có hại cho Việt Nam hơn là có lợi.
Trong buổi họp
báo chiều ngày 4 tháng 8 thì vào năm nay (2010) giá trị hợp đồng bị khách
hàng hủy bỏ “là 700 triệu USD” (xem chú thích 4)! Điều này khẳng
định Chính phủ cho rằng số hợp đồng giá trị 8 tỷ USD bị khách hàng hủy bỏ
là giá trị hợp đồng mà Vinashink phải giao tàu cho khách hàng trong năm 2008.
Như vậy, Chính phủ mà người đại diện là ông PTT Nguyễn Sinh Hùng đã cố
tình đưa ra con số hợp đồng bị hủy giá trị 8 tỷ USD hòng đánh lừa dư luận.
Theo phân tích
ở trên – để đóng được 40 con tàu loại 100.000T và 16 con tàu loại 350.000T
trong một năm – là điều “không tưởng” với Vinashink. Cùng với những dự án
dở dang của Vinashink qua lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ, có thể kết luận
rằng con số 8 tỷ USD mà ông PTT Nguyễn Sinh Hùng rao to lên là một
con số của sự dối trá, lừa gạt đầy trơ trẽn chỉ có thể đánh lừa được những
người kém trí hay bọn trẻ lên ba mà thôi.
Đằng sau âm mưu
của cú lừa này là gì? Động cơ nào đã khiến ông PPT Nguyễn Sinh Hùng đích thân
đi đánh cú lừa với hơn 85 triệu người Việt Nam như vậy? Và có phải ông
PTT cùng cấp trên của ông ta đã nghĩ rằng hơn 85 triệu người dân Việt Nam
là một bầy cừu. Do đó, ông PTT Nguyễn Sinh Hùng và cấp trên của mình muốn
đưa con số nào thì đưa, muốn nói sao thì nói hay không?
Thứ năm. Sự lập lờ trong khái
niệm nợ.
Theo lời ông tân
TGĐ trả lời vitinfo ngày 10 tháng 7 thì […Tất nhiên, món nợ ngoài
ý nghĩa là nợ thì nó còn hình thành nên tài sản của chúng tôi, chứ không
phải hoàn toàn là 60 nghìn tỷ đồng. Phần hình thành các nhà máy, các cơ sở
sản xuất của chúng tôi cũng chiếm khoảng 40 nghìn tỷ đồng trong đó, còn lại
chỉ có 20 nghìn tỷ đồng là vốn lưu động. Cho nên, khi thị trường kích hoạt
trở lại thì chúng tôi hoàn toàn có khả năng trả nợ được…] (6).
Một lối kiến giải
hết sức ấu trĩ. Dù 40.000 tỷ đồng nợ này hiện là tài sản như cơ sở sản xuất,
nhà máy đóng tàu của Vinashink. Nhưng số tài sản này không phải từ trên
trời rơi xuống hay từ dưới đất mọc lên. Số tài sản này có từ tiền Vinashink
đi vay mượn mà có. Do đó, một khi Vinashink chưa có khả năng trả hết nợ
gốc – trả hết số tiền vay mượn để đầu tư máy móc, xây dựng những cơ sở,
những tài sản này thì Vinashink vẫn phải trả tiền lời hàng tháng cũng như
vẫn phải trả khoản nợ mà Vinashink đã vay! Vì vậy, 40.000 tỷ đồng này
vẫn là một gánh nặng của Vinashink – Vinashink không thể thoát được nó –
trừ phi Vinashink hoàn trả hết cho chủ nợ.
Là tân TGĐ của
Vinashink, tại sao ông Trần Quang Vũ lại có cách kiến giải ấu trĩ như vậy?
Có phải ông tân TGĐ Trần Quang Vũ muốn dùng chiêu “lập lờ” hòng đánh lừa dư
luận hay không? Thiết tưởng, ông tân TGĐ Trần Quang Vũ nên có cái nhìn đúng
với thực trạng của Vinashink lúc này. Bởi lẽ, con tàu Vinashink chìm ngập
trong nợ nần hôm nay là hệ quả của sự gian dối của ông cựu TGĐ Phạm Thanh
Bình.
Thứ sáu. Sự
lạc quan tếu về khả năng phục hồi của Vinashink.
Một là. Theo lời ông Nguyễn Xuân
Phúc trong buổi họp báo chiều ngày 4 tháng 8 thì “Sau khi tính
toán sơ bộ, Hội đồng quản trị Vinashin dự báo các năm 2010-2012 sẽ còn lỗ
nhưng năm 2013, 2014 sẽ bắt đầu có lãi và sau 2015 phát triển ổn định"
(đã dẫn 4). Điều này cho thấy sự hời hợt của Chính phủ cũng như lãnh đạo chủ
chốt của Vinashink. Một công ty đang ngập chìm trong nợ nần như Vinashink
để rồi Chính phủ phải “chẻ làm ba” thì kế hoạch vực dậy, sự tính toán
không thể nào bằng mấy chữ “sơ bộ” bao giờ!
Hai
là. Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ thì […Ví dụ như các
nhà máy lớn của chúng tôi hoàn toàn có thể làm được 15-20 tàu cỡ 53 nghìn
tấn mỗi năm. Mà chúng ta biết là tổ chức sản xuất tốt thì một con tàu
chúng tôi lãi từ 3-5 triệu USD, sản xuất không ra gì thì mới lỗ. Và với sản
lượng khi phục hồi trở lại, chúng tôi hoàn toàn có khả năng tạo ta lợi
nhuận để trả món nợ này…] (đã dẫn 6).
Hạ thủy một con
tàu 53.000T để giao cho khách hàng với giá 50 triệu USD, Vinashink lời từ
3-5 triệu USD. Có nghĩa tiền lời dao động từ 6%-10% với điều kiện Vinashink
giao tàu đúng hoặc trước thời hạn. Còn nếu giao tàu sau thời hạn thì lỗ.
Hiện nay, Vinashink
nợ 1 tỷ USD vốn lưu động và 2 tỷ USD vốn đầu tư vào các nhà máy, cơ sở
đóng tàu. Tạm cho rằng những lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ là đúng thì
Vinashink có thể thu hồi số vốn 1 tỷ USD sau khi đầu tư thêm 300-400 triệu
USD cho những dự án dở dang này (đã dẫn 2). Nhưng ít nhất phải đến cuối
năm 2011 thì Vinashink mới có thể giải quyết sạch sẽ số dự án này để thu
hồi 1 tỷ USD.
Như vậy, trong
hai năm 2010-2011, Vinashink phải trả tiền lời cho 3 tỷ USD nợ. Nếu phân lời
2.5% thì một năm Vinashink phải trả 75 triệu USD. Còn nếu phân lời là 5%
thì Vinashink phải trả 150 triệu USD. Và số tiền này chỉ là tiền lời – chưa
phải tiền gốc.
Trong khi đó, khi
bán một con tàu 53.000T với giá 50 triệu USD, Vinashink chỉ thu lời từ 3-5
triệu USD. Vậy thì, với phân lời 2.5% trên tổng số nợ, Vinashink phải xuất
xưởng 15 con tàu 53.000T một năm. Còn nếu phân lời vốn vay là 5% thì Vinashink
phải bán được 30 con tàu 53.000T một năm. Số tiền lời bán được từ những
con tàu này chỉ đủ để trả tiền lãi phát sinh mà thôi chứ chưa đụng chạm tới
tiền gốc 3 tỷ USD Vinashink đang nợ! Vậy thì, bao giờ Vinashink sẽ có khả
năng hoàn trả hết số nợ 2-3 tỷ USD mà Vinashink đã vay???
Qua những điều bất
cập trên đây, có thể khẳng định rằng kế hoạch “tái cấu trúc” Vinashink của
ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ là kế hoạch nửa vời của những người hoang
tưởng. Hoặc giả là của những người “Thầy bói (mù) xem voi” mà thôi.
II. Một cơ chế
cần khai tử
Ngoài việc nợ nần
như chúa chổm của Vinashink khiến dư luận quan ngại, có những vấn đề khác
khiến người dân lo ngại không kém. Đó là chuyện các doanh nghiệp Nhà nước
tự đi vay vốn mà không có sự bảo trợ của Chính phủ. Và tất nhiên là vay nợ
mà Chính phủ không biết thì việc dùng số tiền làm gì Chính phủ cũng không
hay là điều đương nhiên.
Tính đến nay thì
có hai doanh nghiệp đã “lộ mặt” chuyện này. Đó là TKV dưới thời ông cựu Kiển
–và nay là Vinashink. Việt Nam hiện có bao nhiêu doanh nghiệp Nhà nước đã,
đang, và sẽ đi mượn nợ kiểu này – và số nợ đã vay là bao nhiêu? Có lẽ, 85
triệu người dân Việt Nam rất muốn biết con số thực của vấn đề này. Nhưng
có lẽ, người dân Việt Nam phải mua thuốc trợ tim uống trước. Đơn giản, 85
triệu dân Việt Nam hôm nay, cùng con cháu họ sẽ cật lực làm để trả nợ cho
Chính phủ được gây ra bởi các tập đoàn con cưng của Chính phủ. Những tập
đoàn kinh tế mà hiệu quả kinh tế thì kém cỏi nhưng theo lời các vị Bộ trưởng
thì “hiệu quả chính trị, hiệu quả xã hội vẫn tốt”!
Những vấn nạn mà
theo lời của ông PTT Nguyễn Sinh Hùng là “Tôi nhấn mạnh một lần nữa
việc kiểm soát trước còn nhiều yếu kém . Yếu kém này là do cơ chế”
(đã dẫn 3).
Xin được liệt kê
ra xem có bao nhiêu vấn đề đã khiến cho Đất nước đi thụt lùi:
Tham nhũng: cơ chế
Chạy chức: cơ chế
Bằng giả: cơ chế
Công an đánh chết
người: cơ chế
Xử lý môi trường
yếu kém: cơ chế
Chất lượng và hiệu
quả công trình kém: cơ chế
Chính phủ không
quản lý được các tỉnh trong việc thuê đất rừng đầu nguồn: cơ chế.
Quan chức kiêm một
lúc nhiều nhiệm vụ (như Chủ tịch tỉnh & Đại biểu QH) nên làm việc chả
ra đâu vào đâu mà theo như lời ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ tịch QH là
“Cõng em thì khỏi xay lúa”: cơ chế
Người có thực tài
không được nhận vào những chức vụ quan trọng của Chính phủ: cơ chế
…
Cơ man nào là cơ
chế và cơ chế nào cũng hung hiểm như bệnh nan y khiến cho Việt Nam không
thành rồng thành hổ. Vậy thì, đã đến lúc khai tử cái cơ chế này – đó là cách duy nhất để Việt
Nam thành Rồng nơi biển lớn– còn không thì Việt Nam mãi là Rồng nơi lỗ
chân trâu mà thôi!
NT
(1) http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/07/3BA1DA1B/
(2) http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/07/3BA1DD24/
(3) http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/08/3BA1ED79/
(4) http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/08/3BA1ED5F/
(5) http://phapluattp.vn/2010080909571314p0c1015/cuu-chu-tich-vinashin-pham-thanh-binh-do-bung-ra-khong-dung-luc.htm
(6) http://vitinfo.com.vn/MMuctin/Xahoi/kinhtexahoi/LA78992/default.html
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
Trích : Bauxite VN 23.8
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ &
Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|