|
|
DC&PT - Thời
Sự 2010
Lời giới thiệu:
Vinashin đang trở thành đề tài nóng
đến mức sôi sục, là cái ung nhọt kinh tế rất lớn. Những thiệt hại do
Vinashin gây ra làm cả xã hội xót xa, đau đớn.
Tuy nhiên, xin mời độc giả đọc lại
bài viết sau đây để thấy rằng hiện nay đâu chỉ có một Vinashin, mà còn
nhiều lắm, có những “ Vinashin ” còn tệ hại hơn Vinashin. Tất cả đều được
khai sinh, được nuôi dưỡng từ chủ trương doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo
nhằm bảo đảm cho được đường lối “ kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ”.
Một số đại biểu Quốc hôi đang yêu
cầu truy cứu trách nhiệm tới cùng, vậy căn nguyên của tội trạng này là từ
đâu ?Những ai cần phải được đưa ra xét xử ?
THÊM MỘT LẦN NÓI VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Nguyễn
Thanh Giang
Báo lao động số ra ngày 6
tháng 11 năm 2009 có bài “ Trên 45% các tập đoàn, tổng công ty hoạt động
hiệu quả thấp ”. Bài báo nói về thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước
lớn như sau:
“ Về hiệu quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh, theo báo cáo có tới 45,05% các TĐ, TCTy hoạt động hiệu
quả thấp ( tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10% ). Chính điều
này làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của khu vực kinh tế nhà nước.
So sánh với các loại hình doanh
nghiệp khác như doanh nghiệp ngoài nhà nước, các doanh nghiệp có vốn FDI
thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của nhà nước tại TĐ, TCTy còn thấp,
chưa tương xứng với quy mô, nguồn lực tài chính của Nhà nước, vị trí và
vai trò trong nền kinh tế.
Không ít đơn vị, nhất là các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, hoạt động sản xuất kinh
doanh chủ yếu nhờ vào vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng, cơ cấu tài
chính không hợp lý dễ phát sinh rủi ro về cân đối dòng tiền, nợ phải trả
cao gấp nhiều làn so với vốn chủ sở hữu.
Cụ thể năm 2006 có 38 TĐ, TCty
hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng 3 lần, chiếm 40% số TĐ, TCty. Năm 2007 có
31 TĐ, TCty chiếm 32% số TĐ, TCty; năm 2008 có 31 TĐ, TCty chiếm 32% số
TĐ, TCty có hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng 3 lần.
Tính đến 31.12.2008, một số đơn
vị có tỉ lệ tổng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu rất cao ( trên 10 lần ) là: Tổng Công Ty Xây dựng CTGT 1
( 21,6 lần ); Tổng Cty lắp máy Việt Nam ( 17, 4 lần ) ; tổng công ty Xây
dựng CTGT 4 ( 14 lần), TCty Thành An ( 13,9 lần ); TCty Xây dựng Công
nghiệp Việt Nam ( 12,9 lần ); TCty
cổ phần XNK và Xây dựng Việt Nam ( 12,2 lần ); Tổng công ty Xây dựng Công
trình Giao thông 8 ( 12 lần ); TCty Thủy tinh và Gốm xây dựng ( 11,3 lần ), Tập đoàn Công nghiệp Tàu
thủy Việt Nam Vinashin ( 10,9 lần )…
Theo báo
cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến 31.12.2008, tổng nợ tổ chức
tín dụng của 7 tập đoàn ( gồm các tập đoàn: Dầu khí, Than - Khoáng sản,
Cao su, Dệt may, Công nghiệp Tàu thủy, Điện lực, Bưu chính viễn thông,
không tính tập đoàn Bảo Việt ) là 128 nghìn 786 tỉ đồng, tăng 20,54% so
với cuối năm 2007 và chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền
kinh tế tại cùng thời điểm .
Một số đơn vị có nợ lớn là Tập
đoàn Điện lực Việt Nam nợ 66 nghìn 764 tỉ đồng, chiếm 51,84% tổng nợ tín
dụng của 7 tập đoàn; Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nợ 21 nghìn 477 tỉ đồng,
chiếm 16,67%; tập đoàn Vinashin nợ 19 nghìn 885 tỉ đồng, chiếm 15,44%.
Báo cáo cho biết, đây chủ yếu là
nợ chung và dài hạn, phục vụ cho các dự án đầu tư mang tính chiều sâu và
các kế hoạch phát triển. Cụ thể, nợ ngắn hạn chiếm 15%, nợ trung và dài
hạn chiếm 85% tổng nợ của các TĐ, TCty.
Cũng theo báo cáo giám sát thì
đa số các TĐ, TCty có số nợ phải thu lớn, tính đến 31.12.2008, số nợ phải
thu đã tăng 6,3% so với cùng kì năm 2007, tổng số nợ phải thu của các TĐ,
TCty là 185 nghìn 826 tỉ đồng, chiếm 38,28% vốn chủ sở hữu và 14,96 %
tổng tài sản của các TĐ, TCty.
Về chất lượng nợ, tổng nợ quá
hạn của 7 tập đoàn đến 31.12.2008 là 4 nghìn 168 tỉ đồng, chiếm 3,24%
tổng dư nợ của các tập đoàn tại các tổ chức tín dụng. Trong đó nợ có khả
năng mất vốn chiếm 15% tổng số nợ quá hạn.
Tập đoàn Vinashin có số nợ quá
han là 3 nghìn 812 tỉ dồng, chiếm 19,17% dư nợ của TĐ và chiếm 91,4% tổng
số nợ quá hạn của cả 7 TĐ. Nợ quá hạn của 9 nhóm TCty hoạt động trong
lĩnh vực xây dựng là 1 nghìn 208 tỉ đồng, chiếm 10,5% tổng số nợ tại tổ
chức tín dụng ”.
Hiệu quả sản xuất, kinh
doanh trong lĩnh vực chính của doanh nghiệp đã thấp, hiệu suất đầu tư
sang các lĩnh vưc khác còn thấp hơn:
“ 47 TĐ, TCty tham gia đầu
tư vào lĩnh vực tài chính, chứng khoán, ngân hàng…với tổng số vốn đầu tư
rất lớn, cuối năm 2006 là 6 nghìn 434 tỉ đồng, cuối năm 2007 là 16 nghìn
190 tỉ đồng và cuối năm 2008 là 21 nghìn 164 tỉ đồng.
Tuy nhiên theo nhận định thì hiệu
suất đầu tư ( lợi nhuận trên vốn đầu tư ) tính chung là rất thấp, thấp
hơn so với đầu tư vào ngành kinh doanh chính cuả các đơn vị này. Năm 2008
thị trường chứng khoàn suy giảm mạnh. Hầu hết các TĐ, TCty đều bị thua lỗ
hoặc không phát sinh lợi nhuận. Tính đến hết tháng 12.2008, tổng mức đầu
tư của EVN vào lĩnh vực chứng khoán là 214 tỉ đồng; các TĐ góp vốn vào
quỹ đầu tư của TĐ Dầu khí Việt Nam là 368,9 tỉ đồng, TĐ cao su là 27 tỉ
đồng; TĐ Công nghiệp Tàu thủy 144
tỉ đồng đều không phát sinh lợi nhuận.
Cũng theo kết quả giám sát thì
nhiều TĐ chạy đua đầu tư ra ngoài ngành, vào chứng khoán, trong khi đang
thiếu nguồn lực tài chính để đầu tư vào dự án phát triển các dự án quan
trọng của nhà nước. Điển hình là EVN, năm 2008, đơn vị này đầu tư vào
lĩnh vực tài chính khoảng 2 nghìn 146 tỉ đồng, trong khi từ nay đến 2015
để đảm bảo kế hoạch đầu tư xây dưng nguồn điện đơn vị còn thiếu 382 nghìn
931 tỉ đồng ”.
Rời bỏ nhiệm vụ chính (
thường gọi là nhiệm vụ chính trị ) để đi chôm chỉa, kiếm chác nhưng kết
quả mang lại chỉ là nợ ngày càng chồng chất, càng đầm đìa:
“ Báo cáo giám sát cũng cho
thấy nhiều TCty làm ăn thua lỗ, tính đến cuối năm 2008 vẫn còn 23 đơn vị
có lỗ lũy kế với tổng số tiền là 2 nghìn 797 tỉ đồng. Cụ thể, năm 2008,
TCty Lắp máy lỗ phát sinh 68,75 tỉ đồng, TCty xây dựng Công trình Giao
thông 4 lỗ phát sinh 52,52 tỉ đồng, Tập đoàn Dệt may lỗ phát sinh 27,98
tỉ đồng….
Đáng chú ý, TCty Xây dựng Đường
thủy có tới 7/8 đơn vị thành viên hạch toán độc lập chưa cổ phần hóa bị
lỗ làm mất toàn bộ vốn chủ sở hữu của TCty ( việc mất phần vốn của nhà
nước ở các đơn vị thành viên làm cho phần vốn chủ sở hữu của toàn TCty bị
âm trong 3 năm liên tiếp, năm 2006 âm 257.756 triệu đồng, năm 2007 âm
444.010 triệu đồng, năm 2008 âm 464.434 triệu đồng) ”.
Thực trạng tồi tệ, nguy khốn đến như vậy
nhưng vì phải tỏ ra đi đúng “ lề đường bên phải ”, bài báo lại không dám
không ca ngợi các “ đại gia của nhà nước ”:
“ Theo báo cáo giám sát thì tổng nguồn vốn của 90 TĐ ,
TCty đến 31-12-2008 là 1 triệu 241 ngàn tỉ đồng. Với quy mô về vốn, tài
sản, vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế nhà nước, hoạt động của TĐ
, TCty Nhà nước luôn song hành cùng tiến trình phát triển kinh tế của đất
nước. Chỉ tính riêng trong năm 2008, khối doanh nghiệp nhà nước, mà chủ
đạo là các TĐ, TCty đã đóng góp 40% giá trị GDP, tạo ra 39% giá trị sản
xuất công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu .
Theo đánh giá chung thì nhiều TĐ,
TCty đóng vai trò là công cụ quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết
thị trường, ổn định giá cả, đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương
lớn của Đảng, Nhà nước về giải quyết công ăn, việc làm, giảm nghèo, bảo
đảm an sinh xã hội … Quy mô vốn chủ sở hữu của hầu hết các TĐ, TCty được
bảo toàn và không ngừng tăng trong những năm qua ” .
Đoạn ca ngợi này viết không
đúng sự thực.
Theo
đại biểu Quốc hội, giáo sư - tiến sỹ Nguyễn Đăng Vang, các “ đại gia ”
không hề “ đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, Nhà
nước về giải quyết công ăn việc làm ”. Thực tế, toàn bộ số lao động trong
95 tập đoàn kinh tế nhà nước chỉ có 1,119 triệu trong số 54,8 triệu lao
động toàn xã hội. Chỉ sử dụng được 2% lao động thì làm sao có thể xem là
góp phần đáng kể, chứ nói chi đến đi đầu trong việc giải quyết công ăn
việc làm cho xã hội. Chỉ với 2% số lao động ấy thì làm sao đóng góp được
40% giá trị GDP.
Chắc chắn không thể đạt
40%.
Con số thực có lẽ chỉ
khoảng 18,9 % !
( Thế mà, Báo cáo chính trị
tại Đại hội VIII của ĐCSVN trước đây đã từng vạch chỉ tiêu đóng góp 60 %
vào GDP cho khối doanh nghiệp nhà nước. Thuở ấy, trong bài góp ý cho Đại
hội này có tiêu đề “ Thế nào là định hướng đúng.” ( * ) đề ngày 1-5-1996
tôi đã viết :
“ Vậy mà, sao vẫn phải “ Tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế
nhà nước ” và gán ghép cho nó cái chỉ tiêu chiếm tỉ trọng 60 % GDP ? Liệu
có thể làm thế nào trong dăm năm tới đạt chỉ tiêu đó không ? Hay là, nó
chỉ đạt tỉ trọng đó khi GDP phải teo lại ? Liệu có ai thích cái cơ chế đó
chỉ vì muốn lợi dụng nó để biến một số phần tử trong “ giai cấp mình .” thành những tên tư
bản đỏ - những tên tư bản được đề bạt, được chỉ định, được bao cấp, được
bảo vệ bằng chuyên chính vô sản ? Chính những tên này không chỉ bóc lột
dã man hơn mà còn đục ruỗng nền kinh tế tàn tệ hơn bất cứ loại tư sản nào
!.” .
Qủa vậy, cho đến nay, đã
qua ba kỳ Đại hội, sau 14 năm, không những chỉ tiêu 60 % không thể nào
đạt được mà muối mặt man khai cũng chỉ dám công bố con số 40 % hoàn toàn sai sự thật như trên ! )…
Nói các tập đoàn và tổng
công ty nhà nước đã đóng góp trên 50 % kim ngạch xuất khẩu là không đúng.
Chính báo cáo của Chính phủ cho biết năm 2006 doanh nghiệp nước ngoài tạo
được kim ngạch xuất khẩu đến 62,8 % trong khi toàn bộ các doanh nghiệp
Việt Nam, kể cả tư doanh, kể cả các “đại gia.” lẫn các doanh nghiệp nhỏ
chỉ đóng góp được 37,2 % ! Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của các doanh
nghiệp nước ngoài vẫn đạt 60,3 %, trong khi DNNN chỉ được 39,7 %. Năm
2008 có tiến bộ hơn nhưng toàn bộ khối DNNN cũng chỉ có kim ngạch xuất
khẩu khoảng 45% chứ lấy đâu ra trên 50 % ! .
Những
bài báo, những báo cáo như đang nói đến ( kể cả báo cáo trước cơ quan
quyền lực tối cao ) chứng tỏ: để bảo vệ cho được quan điểm, đường lối của
Đảng, người ta không ngần ngại sử dụng những thủ đoạn man trá để lừa dối
nhân dân, lừa dối xã hội .
Trong bài viết “ Thế nào là
định hướng đúng ” ( * ) tôi cũng đã từng tố giác : “ Tại các doanh
nghiệp nhà nước, người ta đem tài sản quốc gia và của cải nhân ra bán đi
hoặc cho vay lòng vòng, thậm chí vay của nước ngoài để chia chác, làm
giàu cá nhân hoặc tiêu sài phung phí. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là
bầu sữa tong teo của nhân dân bị vắt ra đau đớn để nuôi béo một bọn người
vừa bất tài, vừa vô trách nhiệm, vừa phi nhân bản ”
Đến bài viết “ Về vấn đề
vai trò của doanh nghiệp nhà nước ” ( ** ) đề ngày 20-4-2000 tôi lại hơn
một lần rền rĩ thống thiết :
“ Cách đây dăm năm, trong một bản góp ý vào Báo cáo Chính trị của
Đại hội VIII, tôi không nén nổi lòng mình, cũng đã từng thẳng thắn cảnh
báo : “ Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là bầu sữa tong teo của nhân dân
bị vắt ra đau đớn để nuôi béo một bọn người vừa bất tài, vừa vô trách
nhiệm, vừa phi nhân bản ”. Lẽ ra
tôi phải viết “ hầu hết DNNN”, nhưng lúc đó lòng dũng cảm của tôi chỉ
dừng ở mức dám dùng một tính từ chỉ số lượng hoàn toàn bất định: “
nhiều.”. Bây giờ thì bên cạnh câu ấy, tôi còn muốn minh hoạ thêm bằng một
biếm hoạ chua xót mà ở giữa là một cái bồ sứt cạp thủng đáy; phía trên là
mồ hôi, nước mắt, xương máu nhân dân đang được mạnh tay đổ vào; phía
dưới, ngoác ra hàng loạt cái mồm khốn nạn chen nhau nhồm nhoàm nhai nuốt.
Cũng như chủ
trương ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trước đây, chủ trương ưu tiên
củng cố, xây dựng các doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang tạo ra nhiều
nghịch lý, nhiều phản giá trị cả trong kinh tế lẫn xã hội .
Thật vậy, DNNN
không chỉ là những cái bồ thủng đáy để người ta rót của cải, tiền bạc của
nhân dân, của nhà nước vào những cái mồm tham nhũng đủ mọi cấp, đủ mọi
loại, mà còn là những cái bồ sứt cạp để người ta đổ tung toé một cách vô
tội vạ những khoản “ tiền chùa.” to lớn, tạo nên tình trạng lãng phí rất
đau lòng ” .
Từ đấy tôi đã nêu kiến nghị
:
“ Không thể giao phương án cải cách
doanh nghiệp bao gồm việc sắp xếp lại hay cổ phần hoá cho các cấp chủ
quản xây dựng và chỉ đạo thực hiện. Như thế khác nào trông chờ họ tự đẽo,
tự cưa cái ghế của họ, tự gạt đi cái
“ mâm cỗ chùa. ” họ đang hưởng. Cần thiết lập một cơ quan độc lập
đủ mạnh để thực hiện một chương trình cải cách DNNN. Cơ quan này phải có
quyền lực thực sự, đồng thời phải chịu mọi trách nhiệm trước nhà nước .
Cần xác định lại
thế nào là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước? Đâu phải đóng được vai
trò chủ đạo thì phải và chỉ cần chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất và lưu
thông đồng thời chi phối cưỡng bức các thành phần kinh tế khác thông qua
việc tăng cường quyền lực tài chính và chính trị.
Muốn đóng vai trò
chủ đạo, muốn chỉ đạo được, muốn chi phối được về thực chất thì không thể
vận dụng mệnh lệnh hành chính mà phải thông qua sự thuyết phục bởi tính
hiệu quả. Hiệu quả của các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các thành
phần kinh tế nhà nước phải đủ sức cạnh tranh và cạnh tranh thắng cuộc đối
với các thành phần kinh tế khác, thì khi đó mới chi phối được nền kinh tế
quốc gia và mới xứng đáng vai trò chủ đạo .
Song song với việc
xử lý tích cực đối với các DNNN cần khẩn trương hơn trong việc tạo lập
môi trường sản xuất – kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế,
Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế kể cả DNNN cần khẩn trương
hơn trong việc tạo lập môi trường sản xuất – kinh doanh bình đẳng giữa
các thành phần kinh tế . Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế,
kể cả DNNN phải chuyển sang hoạt động theo một luật doanh nghiệp thống
nhất. Từ đó tạo một sân chơi phẳng, một trường đua phân minh để chiến
thắng thực sự thuộc về tài trí chứ không phải chỉ dành cho các cậu ấm, cô
chiêu được nuôi dưỡng bằng bầu sữa bao cấp của nhà nước.”.
Những nhận xét, đánh giá
khách quan, khoa học như vậy, những kiến nghị tâm huyết thực sự vì dân,
vì nước như vậy đã được thành khẩn dâng lên từ hơn chục năm qua. Nếu tinh
thần ấy được hiện thực hoá thì nền kinh tế nước nhà đâu phải gánh những
món nợ è vai hiện tại và những nguy khốn tương lai nhỡn tiền! Tiếc rằng
tấm lòng ấy, những ý kiến ấy không những không được tiếp nhận nghiêm túc
mà người viết còn bị truy chụp đủ tội : gián điệp, phản động, chống CNXH,
chống Nhà nước, cơ hội vv …; bị lục soát nhà cửa và công an bắt đi tra
vấn hơn một chục lần, bị bỏ tù, bị hàng chục bài báo của Đảng bôi bẩn,
lăng nhục ….!
Cho
dẫu như vậy, trước tình hình quá nguy cấp : vì phải gồng gánh DNNN mà,
theo Ngân hàng Thế giới WB, năm 2009 nợ nước ngoài của Việt Nam đã lên
tới 26,8 tỷ USD ( gần bằng 1/3 GDP ). Đây là hiểm hoạ lớn sẽ đổ
lên đầu con cháu chúng ta sau này, mà tội lỗi từ chúng ta. Cho nên, đến
Đại hội XI sắp tới của ĐCSVN tôi vẫn không thể không thêm một lần khẩn
khoản kiến nghị : Hãy đừng vì can tâm nô lệ mãi
cái ý thức hệ “ Định hướng XHCN.” mà cứ cố xác lập vai trò chủ đạo DNNN
một cách duy ý chí hoàn toàn vô lý để làm khổ dân, hại nước. Một nền kinh
tế thị trường lành mạnh, hiện đại ( chứ không phải nền kinh tế thị trường
hoang dã như ở Việt Nam hiện nay ), một chính phủ giỏi giang đủ sức quản
lý chỉ đạo ngang tầm các nước tiên tiến sẽ bảo đảm kinh tế phát triển
tốt, đưa đất nước đến giàu mạnh .
Hà Nội ngày 15 tháng 11
năm 2009
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện
thoại: ( 04 ) 35 534 370
===================
( * ) Trong cuốn “ Khát vọng ngàn đời ” xuất bản tại Hoa
Kỳ năm 1997
( ** ) Trong cuốn “ Suy tư
và Ước vọng ” xuất bản tai Pháp, Hoa Kỳ, Canada
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát
triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|