|
(Suy ngẫm
cùng Luật gia Lê Hiếu Đằng và TS Hà Sĩ Phu)
V. Quốc Uy
http://boxitvn.blogspot.com/2010/11/co-gi-bay-gio-ong-chi-so-ong-chi.html#more
(27/11/10)
Trong bài
viết Kiến nghị dừng khai thác bauxite..., Luật
gia Lê Hiếu Đằng nêu lên tình trạng các cán bộ, đảng viên, báo chí, đại
biểu Quốc hội cứ giữ im lặng, cứ “nhân nhượng, dĩ hòa vi quý với cái
sai, cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc”, “không có ai lên
tiếng thẳng thắn về những chuyện nghiêm trọng” như vụ khai thác
bô-xít, cho thuê rừng đầu nguồn, vụ Vinashin, v.v., và ông quy nguyên
nhân về nỗi SỢ.
Nỗi sợ thì không lạ, trước mắt là trăm ngàn nỗi sợ khác nhau, nhưng
là một đảng viên khá cao cấp, ông LHĐ đề cập đến một nỗi SỢ rất đặc
biệt, rất “nội bộ”: đảng viên trong cùng một đảng lại sợ nhau, và ông
tự hỏi “cớ gì bây giờ mình phải sợ hãi các đồng chí của mình”?
Nỗi sợ này, theo ông LHĐ là vô lý. Và để nhấn mạnh sự cực kỳ vô lý, ông
khẳng định nỗi sợ này lại nằm trong những con người không hề nhút nhát,
trái lại đã từng gan góc trước “kẻ thù” (lúc ấy), từng coi cái chết nhẹ
như lông hồng! Vô lý nữa, tình “đồng chí” đã từng được coi là mặn
nồng hơn cả tình ruột thịt, sao lại có thể sợ nhau?
Nghĩ rằng “nỗi sợ đồng chí” là vô lý, là không thể chấp nhận
nên ông LHĐ nhắn nhủ và động viên tất cả các đồng chí của mình, rằng
hãy mạnh dạn lên tiếng trước các vấn nạn, như ông đã lên tiếng. Quả thực
so với trước đây, bây giờ đã ngày càng nhiều đảng viên (và các cán bộ
của Đảng) đã dám mạnh dạn lên tiếng. Ý kiến của ông LHĐ đang có tác dụng
thúc giục thêm, vậy đây là một ý kiến đáng trân trọng.
*
Song, nếu nhìn toàn cảnh thì sự im tiếng, sự sợ hãi vẫn chiếm số
rất đông, số đảng viên mạnh dạn lên tiếng còn lâu mới được 1 phần trăm!
Nghĩa là vượt qua “nỗi sợ đồng chí” không phải việc đơn giản, bởi
nỗi sợ ấy không vô lý như ta tưởng, mà nó có lý của nó. Có lẽ vì thế mà
TS Hà Sĩ Phu đã khẳng
định rằng muốn giải thích được nỗi sợ ấy cần vận dụng đến 3 điều không
đơn giản là “sự hiểu biết, lòng trung thực và nhân cách”! Muốn “giải
đáp cho ra ngọn nguồn” như lời TS HSP thật không đơn giản chút nào.
Tôi xin mạo muội đề cập đôi điều góp phần lý giải vấn đề không đơn giản
ấy.
Trong chiến tranh thì toàn Đảng và dân chúng (do Đảng lãnh đạo) ở
cùng một phía, phía kia là thực dân Pháp hoặc Mỹ cùng với chính quyền miền
Nam. Lúc ấy quyền và lợi cơ bản chưa có, chỉ có gian khổ hy sinh. Lúc ấy
có thể nói “Đảng với dân là một”, huống chi cùng là “đồng chí”
trong Đảng thì sự chia sẻ gian khổ với nhau còn hơn cả người thân. Chữ
“đồng chí” lúc ấy thiêng liêng, đáng yêu đến mức Tố Hữu viết: “Thương
nhau, anh gọi em: Đồng chí!”, gọi “đồng chí” là âu
yếm hơn cả vợ chồng. Sau này khi mô tả lại, nhà thơ Bùi Minh Quốc cũng
viết “Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ”, tình đồng chí là tình
máu thịt. Nếu “đồng chí” với nghĩa như vậy thì làm gì có chuyện
“sợ” nhau như bây giờ? Lúc ấy, nếu cấp dưới có phải nghe lệnh
cấp trên thì cũng là tự nguyện.
Nhưng chiến thắng là bước ngoặt phân ly, chấm dứt quan hệ cũ, bắt
đầu quan hệ mới. Đảng lên nắm chính quyền một cách cố định không luân
chuyển, lãnh đạo cả đất nước, đầy quyền uy. Dù có thương yêu nhau đến
mấy, trong cấu trúc xã hội tự nhiên cũng phân thành hai cực, Đảng ở cực
lãnh đạo (hay cai trị), dân ở cực bị lãnh đạo (hay bị cai trị). Không có
lý thuyết xã hội học nào lại coi hai cực cai trị và bị trị “là một”
cả, từ đây nếu còn nói “Đảng với dân là một” là duy ý chí. Quan
hệ giữa hai cực “đối tác” ấy sẽ hài hòa hay bất ổn là phụ thuộc vào
đường lối của giới cai trị có thuận lòng dân hay không, lợi ích có mâu
thuẫn với lợi ích dân tộc hay không.
Song xét thực chất, quyền lực không nằm ở toàn Đảng, quyền lực chỉ
nằm trong tay thiểu số Đảng viên trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành
Trung ương. Đa số đảng viên là “đảng viên thường” thực chất chỉ là
công cụ để thực hiện những chủ trương của Bộ Chính trị và BCH Trung
ương. Hơn 2 triệu “đảng viên thường”
này nằm ở giữa hai cực cai trị và bị cai trị. Về danh nghĩa họ là “công
dân loại 1”, được hưởng một số quyền lợi của đảng viên, nhưng vì họ là
công cụ giao lưu trực tiếp với dân nên phần nào họ cũng gần dân, và về
một số mặt họ bị thiệt thòi hơn cả dân thường. “Đảng viên
thường”, hay đảng viên cấp dưới, có nhiệm vụ phải làm gương, vừa để
cho dân trông vào, vừa làm bình phong che cho những tật xấu, những điều
bất chính ở các cấp cao. Thậm chí, khi phạm tội lỗi mà bị dân phát hiện
họ dễ dàng bị kỷ luật để tượng trưng cho tính nghiêm minh. Nhiều đảng viên thổ lộ rằng sự mất dân chủ trong
đảng còn nặng nề hơn bên ngoài, “19 điều cấm” khiến cho
“đảng viên thường” còn thua một công dân bình thường về quyền
công dân.
Trong Đảng, trật tự tôn ty phân biệt rất rõ,
phẩm trật trên dưới phân định quyền sinh quyền sát nghiêm khắc hơn thời
phong kiến, thử hỏi các “đảng viên
thường” tức đảng viên không giữ quyền lực không
“sợ các đồng chí” nắm quyền ở thượng cấp sao được? Không
thể tự ý ra khỏi Đảng, không được nói tiếng nói của lòng mình, đa số họ
cũng đầy tâm tư, bế tắc, luôn sống trong nỗi sợ.
Lại xét đến những biến động ngay trong giới nắm quyền lực. Quyền lực biến đổi con người, lúc gian khổ họ khiêm nhường,
nhân ái. Quyền càng to càng mau tha hóa, trở nên ham muốn vô bờ và mưu
mẹo, sẵn sàng phản bội tình “đồng chí”, sẵn sàng cướp công, vu
vạ, hãm hại “đồng chí” như chơi.
Hãy so sánh hai bài thơ mô tả tình đồng chí ở hai thời kỳ
chưa cầm quyền và cầm quyền thì rõ.
Năm 1948, mấy ai không thuộc bài “Đồng chí” của Chính Hữu:
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay...
Nhà thơ Bùi Minh Quốc chỉ vì đòi quyền tự do sáng tác (theo đúng
tinh thần nghị quyết 05 của BCT) mà bị khai trừ, năm 1988, trong bài “Những
ngày thường đã cháy lên” ông viết:
Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ
Sao có lúc vang lên lạnh rợn thế này?
Đồng chí – dao đã nằm ém nhẹm dưới lòng tay
và mọi ngả đường đã giăng cạm bẫy!
Rồi năm 1997, trong bài “Hý trường” của tập “Thơ vụt hiện
trong phòng thẩm vấn” có đoạn:
Hậu trường có gì xôm không nhỉ?
Cuộc sát phạt vào màn hay ho
Đồng chí ăn thịt đồng chí
Nhạc hùng càng nổi to! (http://www.hasiphu.com/nhomdalat_BMQ19.html)
“Dao ém nhẹm du lòng tay”, “mọi ngả đường đã giăng cạm
bẫy”, “đồng chí ăn thịt đồng chí” thì các đồng chí phải “sợ
các đồng chí của mình” là lẽ đương nhiên, có gì là vô lý? Sự cạnh
tranh chức quyền và “lợi ích nhóm” khiến cho cấp dưới sợ cấp trên đã
đành, mà các cấp trên với nhau cũng “sợ” nhau từng giờ từng phút,
nhất là trước thềm những Đại hội.
Báo chí của Đảng đang nêu bật mối lo sợ “tự diễn biến”, nhưng đây
là sự tự diễn biến theo cả hai phía, một phía cấp tiến, gần lại hơn với
nhân dân và thời đại dân chủ tự do, một phía bị tha hóa bởi quyền lực, miệng
nói lý tưởng nhưng việc làm lại hy sinh lý tưởng cho lợi quyền riêng.
Sự phân ly về hai phía không tránh khỏi ấy sẽ khiến cho tính chất “đồng
chí” suy giảm dần, đến một lúc khó coi nhau là “đồng chí”,
sẵn sàng quy kết nhau, thì sợ nhau là phải!
*
Lấy quá khứ làm điểm tựa, Luật gia Lê Hiếu Đằng cứ giả thiết mọi
người còn đồng tâm thực thi lý tưởng Độc lập - Dân chủ nên coi hiện tượng
“đồng chí sợ đồng chí” là VÔ LÝ, cần khắc phục ngay. Trái lại,
TS HSP với cái nhìn khoa học lại gợi ý rằng tình trạng này rất khó khắc
phục vì “đồng chí sợ đồng chí” là rất CÓ LÝ, cần vận dụng cả “sự
hiểu biết, lòng trung thực và cả nhân cách” mới lý giải được, nếu
thiếu một trong ba nhân tố ấy, câu trả lời sẽ “ấp úng” ngay!
Theo HSP thì đa số đảng viên và cán bộ vẫn cứ “tự kiểm duyệt” để
biến những mệnh lệnh không văn bản của thượng cấp thành sự đồng
thuận tự nguyện, để mọi thứ vẫn êm trôi như không có gì xảy ra. Khi nỗi
sợ đã ngấm vào máu, đã thành bản năng sinh tồn thì những lời động viên
khích lệ chưa đủ, cần sự tháo gỡ từ gốc! Phải làm sao để
đảng viên không phải sợ Đảng, “đồng chí” với nhau không phải sợ nhau
nữa?
Như vậy thì cả ý kiến của hai ông đều đúng, mỗi ý kiến đáp ứng một
phần của hiện thực và có tác dụng riêng, cả hai gộp lại mới thành bức
tranh toàn cảnh về “nỗi sợ đồng chí”. Nỗi sợ ấy vẫn là một trở
ngại vô cùng nặng nề, ngăn cản sự thực hiện lời Đảng rằng phải “dũng
cảm nhìn thẳng sự thật, nói hết sự thật”, ngăn cản việc đặt lên bàn
những vấn nạn công khai để mổ xẻ thật cụ thể và tìm cách khắc phục hữu hiệu.
Cùng với Luật gia LHĐ, ngày càng nhiều ý kiến đồng ý rằng “Dân chủ là giải pháp cho mọi
vấn đề của đất nước”, nhưng cần nói tiếp: “chưa có được dân chủ trong Đảng thì chưa thể
nói gì đến dân chủ cho xã hội”!
Làm thế nào chuyển được những nhận thức này thành hiện thực, chắc
chắn đây không phải bài toán dễ dàng, nhưng chừng nào chưa giải được
bài toán gốc này thì những việc hệ trọng cho quốc kế dân sinh như vụ Bauxite,
vụ Vinashin, vụ Tàu cao tốc, vụ cho thuê rừng đầu nguồn, dù có đưa ra
Quốc hội (nơi đại đa số là đảng viên) cuối cùng cũng chỉ loanh quanh
dẫm chân tại chỗ, cứ “vũ như cẫn” hoặc càng xấu hơn.
V. Q. U.
Tháng 11-2010
|